Tòa Án Linh Hồn

phần lớn công việc đã được hoàn tất. Những

phần lớn công việc đã được hoàn tất. Những

phần lớn công việc đã được hoàn tất. Những người đồng nghiệp của cô rất chú ý tới việc kiểm tra đồ đạc. Họ lôi các ngăn kéo và để chúng xuống sàn, rồi tỉ mỉ khám xét đồ đạc bên trong. Họ tháo áo sofa, lột vỏ gối và ai đó cũng dùng ống nghe để kiểm tra xem tường có khoảng trống được sử dụng làm chỗ trú ẩn hay không. Một người đàn ông cao và gầy, mặc bộ quần áo sáng màu, đang chỉ dẫn những nhân viên cảnh sát trong đội chó nghiệp vụ hướng ra phía vườn. Ông ta nhận ra sự có mặt của cô và ra hiệu cho cô chờ. Sandra gật đầu và dừng lại ở ngưỡng cửa. Các cảnh sát cùng chó nghiệp vụ ra khỏi ngôi nhà, những con vật kéo họ về phía khu vườn. Lúc bấy giờ, người đàn ông mới tới chỗ cô. “Tôi là thanh tra Camusso.” Ông đưa tay ra bắt. Ông mặc bộ vest màu tím với áo sơ mi kẻ cùng tông và thắt cà vạt màu vàng làm điểm nhấn cuối cùng. Quá bảnh chọe. Sandra không để bộ trang phục lập dị của người đồng nghiệp làm phân tâm, cho dù cô tìm thấy ở nó sự an ủi qua ánh mắt và qua tâm trạng – giữa đống đen ngòm bao quanh họ. “Vega.” “Tôi biết cô là ai, họ đã thông báo cho tôi. Xin chào mừng.” “Tôi không muốn làm vướng chân các ông.”

“Cô đừng lo. Ở đây chúng tôi cũng sắp xong rồi. Gánh xiếc sẽ hạ màn vào buổi trưa: tôi cho là cô tới hơi muộn để xem màn trình diễn.” “Các ông đã có Jeremiah Smith và những bằng chứng cho thấy hắn liên quan đến bốn vụ giết người, vậy các ông còn đang tìm kiếm điều gì?” “Chúng tôi không biết đâu là sân chơi của hắn. Các cô gái không bị giết tại đây. Hắn cầm tù họ trong một tháng. Không xâm hại tình dục. Hắn trói họ, nhưng không có bất cứ dấu hiệu tra tấn nào trên thi thể. Ba mươi ngày sau hắn cắt cổ họ và chấm hết. Nhưng dù sao hắn cũng cần một góc nhỏ bình lặng nơi hắn có thể thoải mái hành động theo ý muốn. Chúng tôi hy vọng sẽ tìm thấy thứ gì đó dẫn tới nơi cầm tù, nhưng chẳng có gì cả. Còn cô tìm kiếm điều gì?” “Sếp tôi, thanh tra De Michelis, muốn viết một báo cáo chi tiết về tội phạm giết người hàng loạt. Ông biết đấy, những trường hợp như thế này không phải lúc nào cũng sẵn. Với đội Khoa học hình sự như chúng tôi, đây là một cơ hội tuyệt vời để có thêm kinh nghiệm.” “Tôi hiểu rồi, ” ông ta nói mà không màng đến việc kiểm tra xem cô có nói sự thật hay không. “Đội chó nghiệp vụ còn ở đây làm gì vậy?” “Những chú chó tìm xác chết sẽ đi một vòng nữa quanh vườn: khả năng xuất hiện thêm thi thể luôn xảy ra, đây không phải là lần đầu. Trời mưa những ngày qua khiến việc truy tìm

sẽ rất khó khăn. Tôi không chắc chúng có thể đánh hơi ra thứ gì đó: đất ẩm và quá nhiều mùi bốc lên. Những con vật sẽ bị say và không có khả năng định hướng.” Ông thanh tra ra hiệu cho một trong những cấp dưới của mình mang tới một tập hồ sơ. “Nó đây, cái này dành cho cô. Trong đó chứa kết quả về trường hợp của Jeremiah Smith. Cô sẽ tìm thấy những bản báo cáo, lý lịch của hung thủ và bốn nạn nhân, dĩ nhiên cả tập ảnh. Nếu cô muốn một bản sao, cô phải gửi đề nghị lên thẩm phán có thẩm quyền. Bởi vậy cô có thể trả lại tôi tập hồ sơ này sau khi nghiên cứu xong.” “Đồng ý, tôi sẽ không dùng nó lâu dâu,” Sandra trả lời trong lúc đón lấy tập hồ sơ. “Có vẻ như xong rồi nhỉ? Cô có thể đi đâu tùy ý, tôi nghĩ cô không cần người dẫn đường” “Tôi sẽ tự đi, cảm ơn ông.” Ông thanh tra đưa cho cô bao bọc giày và găng tay cao su: “Tốt rồi, vậy chúc cô vui vẻ.” “Đúng là đi dạo ở chỗ này sẽ làm tâm trạng thêm phấn khởi.” “Phải rồi, vui như những đứa trẻ chơi trò trốn tìm trong một nghĩa địa vậy.” Sandra chờ cho Camusso đi khuất, rồi cô lấy điện thoại với ý định chụp ảnh ngôi nhà. Cô mở tập hồ sơ và lướt nhanh bản báo cáo cuối cùng. Nó đề cập tới cách thức họ nhận dạng tên sát nhân hàng loạt. Đọc hồ sơ đó, cô thấy thật khó có thể tin mọi chuyện đã xảy ra như miêu tả.

Cô lại gần căn phòng nơi đội cấp cứu tìm thấy Jeremiah Smith trong tình trạng hấp hối. Trong phòng khách, những kỹ thuật viên Khoa học hình sự đã hoàn thành công việc của mình được một lúc lâu. Sandra chỉ còn lại một mình. Nhìn ngó xung quanh, cô cố tưởng tượng lại hiện trường. Các nhân viên y tế tới nơi và thấy người đàn ông đang nằm vật dưới sàn. Họ cố hô hấp nhân tạo cho hắn nhưng tình trạng quá trầm trọng. Họ đang chuẩn bị đưa hắn đi, nhưng một người trong số họ – cô bác sĩ trên xe cứu thương – đã nhận ra một vật hiện diện trong căn phòng. Một chiếc giày trượt patin màu đỏ có móc khóa mạ vàng. Cô ấy là Monica, là chị gái của một trong những nạn nhân mà tên giết người hàng loạt đã bắt cóc và giết hại trong sáu năm nay. Chiếc giày patin thuộc về em gái song sinh của cô. Chiếc kia được tìm thấy trên chân của xác chết. Monica hiểu rằng cô đang đối mặt với tên giết người. Người y tá nam ở cùng cô biết câu chuyện, giống như mọi người ở bệnh viện. Sandra hiểu một số sự việc diễn biến thế nào, ở đội cảnh sát cũng y hệt như vậy. Những người đồng nghiệp của bạn trở thành một kiểu gia đình thứ hai, vì đó là cách duy nhất để đương đầu với nỗi đau và sự bất công diễn ra hàng ngày trước mắt chúng ta. Từ mối quan hệ đó những quy tắc mới và một loại hiệp ước long trọng được ra đời. Bởi vậy, lúc đó Monica và đồng nghiệp có thể để mặc cho Jeremiah Smith chết, như hắn đáng bị thế. Hắn ở trong tình trạng vô vọng, chẳng ai có thể kết tội họ vì tắc trách. Nhưng

đằng này họ đã quyết định giữ hắn lại trên đời. Thậm chí chính cô ấy đã quyết định cứu mạng hắn. Sandra chắc chắn rằng mọi chuyện đã tiến triển theo chiều hướng ấy, như những cảnh sát hiện diện lúc đó tại ngôi biệt thự đều biết. Ngay cả khi chẳng ai nói gì về việc đó. Số phận đã bày ra một trò chơi lạ lùng trong ngôi nhà đó. Sự tình cờ hoàn hảo đến mức cô không thể tưởng tượng ra một động lực nào khác. Người ta không thể sắp xếp một sự việc như thế được, cô tự nhủ. Nhưng có những chi tiết của vụ việc mà cô không thấy thuyết phục. Hình xăm của Jeremiah Smith. Trên ngực hắn có ghi dòng chữ Giết tao đi. Trong hồ sơ, gần tấm hình chụp dòng chữ có một bản chứng thực chữ ký xác nhận rằng chính hắn đã viết nó. Cho dù đó là biểu tượng của sự lệch lạc ác-thống dâm, thật lạ lùng khi lời mời đó lại tương ứng với sự lựa chọn mà Monica phải đối mặt. Sandra chụp một loạt ảnh của căn phòng. Cái ghế tựa của Jeremiah Smith, một cái cốc sữa vỡ vụn trên sàn, cái tivi cổ lỗ sĩ. Khi kết thúc, cô bỗng có cảm giác hội chứng sợ không gian kín đột ngột ập tới. Cho dù đã quen với những hiện trường thảm khốc, cô thấy cái chết có vẻ hữu hình và sỗ sàng hơn trong những đồ vật quen thuộc. Thật quá sức chịu đựng, cô thấy cần phải ra khỏi đó. Có những đồ vật gắn kết người chết với thế giới của người sống. Chỉ cần tìm ra chúng và giải phóng chúng.

Một sợi dây buộc tóc, một vòng tay san hô, một cái khăn… Và một chiếc giày patin bốn bánh. Sandra điểm qua danh sách ngắn về những vật thờ được cảnh sát tìm thấy trong nhà của Jeremiah Smith đã xác nhận mối quan hệ của hắn với các nạn nhân. Thậm chí, người ta có thể khẳng định rằng bốn cô gái bị sát hại, bằng cách này hay cách khác, đã được nhận dạng qua những đồ vật đó. Cô ngồi xuống một chiếc ghế đá trong khu vườn của ngôi biệt thự để lấy hơi. Ít phút trước, cô chạy như bay qua trước mặt những người đồng nghiệp và trốn ra ngoài để tránh ánh mắt của họ. Ở đó thật dễ chịu, mặt trời buổi sáng vuốt ve, những tán cây để mặc cho những cơn gió chớp nhoáng bông đùa, tiếng lá xào xạc như thể một tràng cười. Bốn nạn nhân trong sáu năm, Sandra nhắc lại. Tất cả đều có chung một vết cứa sắc lẹm ở tĩnh mạch cảnh. Một nụ cười được tạo ra bằng con dao cứa cổ. Em gái của Monica tên là Teresa. Cô ấy hai mươi mốt tuổi và thích trượt patin. Vào một buổi trưa Chủ nhật như thường lệ, cô ấy đã mất tích. Trên thực tế, trượt patin là một cái cớ. Cô ấy thích một anh chàng và muốn gặp anh ta. Ai mà biết được Teresa đã chờ đợi anh ta bao lâu tại đường băng, vì ngày hôm đó anh ta đã không xuất hiện. Có lẽ Jeremiah Smith đã nhắm tới cô ấy đúng thời khắc đó, khi cô một mình tại một chiếc bàn nhỏ trong một quầy giải khát. Hắn đã tiếp cận cô ấy lấy cớ mời uống nước. Đội Khoa học hình sự đã phát hiện ra dấu vết của GHB – thường được biết đến với cái tên Rufis – trong một ly

nước cam. Một tháng sau, Jeremiah Smith trả lại thi thể, bỏ nó bên bờ sông với đúng bộ quần áo cô ấy mặc vào hôm mất tích. Tất cả nhân viên ở cửa hàng bán đồ ăn nhanh đều nhớ chiếc dây buộc tóc bằng lụa màu xanh da trời mà Melania – hai mươi ba tuổi – thường dùng để cột những lọn tóc vàng óng. Bộ đồng phục của nhân viên hầu bàn không được đẹp cho lắm, nhưng cô lại rất quan tâm đến vẻ ngoài khi xuất hiện. Cô đã làm bộ trang phục thêm phần sống động với kiểu buộc tóc rất cổ điển của thập niên năm mươi đó. Buổi trưa hôm bị bắt cóc, cô đang trên đường đến chỗ làm. Lần cuối cùng có người trông thấy cô là khi cô ấy đang đợi xe buýt. Thi thể của cô ấy xuất hiện ba mươi ngày sau tại một bãi đỗ xe. Bị giết và mặc lại quần áo. Nhưng cái dây buộc tóc thì biến mất. Vanessa, mười bảy tuổi, rất mê tập gym. Cô tới phòng tập mỗi ngày để đạp xe. Cô chưa bao giờ bỏ lỡ buổi tập nào, ngay cả khi không được khỏe. Khi mất tích cô đang bị cảm lạnh. Mẹ cô đã cho một bài rao giảng hòng thuyết phục cô nghỉ tập vào hôm đó. Khi thấy không thể lay chuyển được con gái, bà đã đưa cô một chiếc khăn len để ít ra nó có thể giúp cô ấm áp hơn. Để làm vui lòng bà, Vanessa đã quàng nó. Bà mẹ không thể biết rằng chiếc khăn màu hồng ấy không đủ để bảo vệ con gái khỏi nguy hiểm đang rình rập. Thuốc mê lần này được giấu trong một chiếc chai đựng thực phẩm chức năng bổ sung muối khoáng. Cristina rất ghét cái vòng tay san hô của cô. Nhưng cô chỉ thổ lộ với chị gái của mình. Chính cô ấy đã để ý thấy sự thiếu vắng của nó trên cổ tay em gái khi nhận xác tại nhà đại thể.

Cristina đã tặng nó cho anh người yêu và cả cô cũng đeo một cái giống hệt. Cả hai người đều hai mươi tám tuổi và đang lên kế hoạch cưới xin. Có thể vì thế mà cô hơi căng thẳng. Một đống thứ phải chuẩn bị trong khi thời gian không còn nhiều, vậy là cô đã tìm đến phương thức nhanh gọn để giải tỏa căng thẳng trong một thời gian. Uống rượu. Bắt đầu vào buổi sáng và cứ như vậy cho tới tối, mỗi lần chỉ một chút, không bao giờ say xỉn thực sự. Chẳng ai biết điều đó lại đang trở thành một vấn đề. Nhưng Jeremiah Smith thì đã để ý. Hắn chỉ cần theo cô ấy tới một vài quán bar là hiểu rằng ra tay với cô dễ dàng hơn rất nhiều so với những người khác. Cristina là nạn nhân cuối cùng của tên giết người hàng loạt. Những tấm chân dung đó là kết quả từ lời chứng của họ hàng, bạn bè và người yêu. Mỗi người lại thêm vào một chi tiết riêng tư, tô màu cho bản báo cáo sự việc lạnh lùng. Để những cô gái đó hiện lên một cách chân thực. Con người, không phải đồ vật, Sandra tự nhủ. Và đồ vật giống như con người. Bởi vì một sợi dây buộc tóc, một cái vòng tay san hô, một cái khăn và một chiếc giày patin bốn bánh đã thay thế cho kẻ đã biến mất khỏi tâm trí của những người yêu quý họ. Nhưng khi đọc những tiểu sử đó cô thấy xuất hiện một dữ liệu mâu thuẫn. Bốn cô gái đều không khờ khạo. Họ có gia đình, bè bạn, những nguyên tắc ứng xử, hình mẫu để noi theo. Thế mà họ lại để cho gã đàn ông vô nghĩa như Jeremiah Smith tiếp cận. Một kẻ tuổi ngũ tuần, chắc chắn không bảnh bao, lại có thể

mời họ uống và chi phối họ. Tại sao họ lại chấp nhận sự quan tâm của hắn? Hắn hành động giữa ban ngày ban mặt và chiếm được lòng tin của họ. Hắn đã làm thế nào chứ? Sandra tin rằng câu trả lời không nằm ở những vật thờ kia. Cô đóng tập hồ sơ, ngẩng đầu lên và để cơn gió nhẹ mơn man. Cả cô trong một thời gian dài đã nhận dạng David qua một đồ vật. Cái cà vạt kinh khủng màu xanh như da thằn lằn. Cô mỉm cười khi nghĩ lại. Nó còn xấu hơn rất nhiều so với cái màu vàng của ông thanh tra vừa tiếp cô khi nãy. David không bao giờ ăn mặc lịch sự, anh thấy phiền phức khi phải đóng bộ như một anh chàng đỏm dáng. “Anh nên may một bộ áo đuôi tôm, ” cô ghẹo anh. “Tất cả những vũ công tip-tap đều có một bộ, Fred.” Vì thế, anh chỉ có đúng cái cà vạt đó. Khi những nhân viên nhà tang lễ hỏi cô bộ quần áo để mặc cho anh trong quan tài, cô đã hết sức bàng hoàng. Khi hai mươi chín tuổi cô chưa bao giờ hình dung tới việc mình phải đưa ra một quyết định như vậy. Cô phải lựa chọn đồ gì để đại diện cho David. Cô bắt đầu xới tung đống quần áo của anh trong vô vọng. Cô đã chọn một chiếc áo khoác safari, một chiếc sơ mi màu xanh da trời, quần kaki và giày thể thao. Đó là hình ảnh mọi người thường nhớ về anh. Nhưng chính trong khoảnh khắc đó cô nhận ra chiếc cà vạt màu xanh da thằn lằn đã biến mất. Cô không tài nào tìm thấy nó ở bất cứ đâu nhưng cô không chịu đầu hàng. Cô đã lục tung cả căn nhà, nó như một kiểu ám ảnh. Xem ra khá điên khùng nhưng cô đã

đánh mất David và cô không thể chịu nổi ý nghĩ phải từ bỏ thứ gì khác nữa. Cho dù là cái cà vạt kinh tởm màu xanh da thằn lằn. Rồi bỗng một hôm cô nhớ ra chính xác nó ở đâu. Khi không còn nghĩ đến nó thì cô chợt nhớ ra. Làm sao cô lại quên được nhỉ? Chiếc cà vạt là bằng chứng hiện hữu duy nhất về cái lần mà cô đã nói dối chồng. Cách nhà Jeremiah Smith vài bước chân, Sandra nghĩ rằng hơi ấm của mặt trời và sự vuốt ve của gió thật không xứng đáng. Cô mở đôi mắt đang lim dim và thấy thấp thoáng trên cao ánh nhìn của một thiên thần bằng đá. Với vẻ im lặng bất động, bức tượng nhắc cô nhớ mình có điều cần được tha thứ. Và rằng thời gian luôn cho ta cơ hội để sửa chữa những sai lầm. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tay súng bắn cô ở nhà thờ Thánh Raimondo di Peñafort giết chết cô? Cô sẽ ra đi mang theo gánh nặng tâm lý đó. Món đồ nào sẽ làm gia đình và bạn bè tưởng nhớ đến cô? Cho dù đó là bất cứ thứ gì thì cũng sẽ giấu họ một sự thật: cô không xứng đáng với tình yêu của David, vì cô đã không chung thủy. Những cô gái bị Jeremiah Smith bắt cóc cảm thấy được an toàn, cô tự nhủ. Cũng giống như mình trước khi bước vào nhà thờ ấy. Đó chính là lý do tại sao họ chết. Hắn có thể giết họ nhờ vào mong muốn được sống của họ và họ không thể biết khi nào chuyện đó sẽ ập tới với mình.

Phía sau thiên thần bằng đá, Sandra ngó thấy các đồng nghiệp đang cùng chó nghiệp vụ cẩn trọng kiểm tra một phần khu vườn. Đúng như những gì Camusso đã nói: Những con vật có vẻ mất phương hướng vì những mùi bốc lên từ mặt đất. Ít phút trước ông thanh tra đã cho cô vào tiến hành một nghiên cứu thông thường, thêm một sự cẩn trọng để không bỏ sót bất cứ thứ gì chưa được khám phá: “Khả năng xuất hiện thêm thi thể luôn xảy ra, đây không phải là lần đầu,” ông đã nói vậy. Nhưng giờ cô có khả năng phán đoán khi nào một người đồng nghiệp cố tìm cách đánh lạc hướng mình. Đó là thái độ cẩn trọng mà cảnh sát thường vận dụng khi họ sợ mắc sơ suất phòng trường hợp nó tấn công trở lại họ. Đúng lúc đó, thanh tra Camusso tới phía sau cô. “Mọi việc ổn cả chứ?” ông hỏi. “Lúc nãy tôi thấy cô lao như bay ra khỏi ngôi biệt thự và…” “Tôi cần một chút không khí, ” Sandra ngắt lời ông ta. “Cô đã phát hiện ra điều gì thú vị ư? Tôi không muốn cô quay lại chỗ ông sếp mà không có gì trong tay.” Rõ ràng rằng ông chỉ xã giao với cô. Nhưng Sandra muốn tranh thủ cơ hội. “Cũng có một thứ. Và nó hơi lạ lùng. Có lẽ ông có thể giúp tôi hiểu thêm.” Ông thanh tra nhìn cô trân trân, ngạc nhiên. “Cô cứ nói.” Sandra để ý thấy vẻ lo lắng hiện lên trong ánh mắt của ông ta. Cô mở tập hồ sơ và chỉ cho ông tiểu sử của bốn nạn nhân của Jeremiah Smith. “Tôi nhận thấy tên sát nhân cứ mười tám

tháng lại ra tay một lần. Vì khi các ông tìm thấy hắn cũng gần ngần đó thời gian đã trôi qua và các ông cũng chắc rằng hắn đưa các cô gái tới một chỗ, tôi tự hỏi liệu có khi nào hắn đã chuẩn bị ra tay trở lại hay không.” Cô tỏ vẻ nghiêm túc: “Như ông biết rõ rồi đấy, trong trường hợp giết người hàng loạt, những khoảng thời gian ngưng nghỉ là rất quan trọng. Nếu mỗi thời kỳ được chia thành ba giai đoạn: thai nghén ý tưởng, lên kế hoạch và hành động, thì theo tôi khi Jeremiah Smith bị ốm ắt hẳn hắn phải đang ở giai đoạn thứ ba.” Ông thanh tra không bình luận gì. Sandra tiếp tục công kích: “Thế nên tôi tự hỏi liệu có phải ở đâu đó một tù nhân đang chờ đợi sự ứng cứu của chúng ta.” Cô cố tình để câu nói cuối cùng lắng xuống tạo lợi thế cho Camusso, vẻ mặt ông quả nhiên tối sầm lại. “Có khả năng, ” ông thanh tra đáp một cách khó nhọc. Sandra hiểu ra rằng không chỉ mình cô đặt giả thuyết như vậy. “Một cô gái khác đã mất tích?” Camusso sững người lại. “Cô biết mọi việc thế nào mà, sĩ quan Vega. Những thông tin mật bị rò rỉ sẽ có nguy cơ làm sai lệch kết quả điều tra.” “Ông sợ gì cơ? Áp lực của báo chí? Công luận? Hay cấp trên của ông?” Ông thanh tra trì hoãn thời gian trả lời. Nhận ra rằng cô không dễ dàng từ bỏ con mồi, cuối cùng ông đành thú thực:

“Một nữ sinh viên kiến trúc đã bị mất tích gần một tháng trước. Lúc đầu có giả thuyết về việc ra đi có chủ đích.” “Ôi Chúa ơi.” Sandra không tin nổi mình đã đoán trúng. “Đúng như cô nói. Thời gian trùng khớp. Nhưng không có bằng chứng, chỉ là nghi ngờ thôi. Cô cứ thử hình dung mọi chuyện sẽ rắc rối cỡ nào nếu người ta biết chúng tôi đã đánh giá thấp tình hình cho đến khi Jeremiah Smith lộ diện.” Sandra không muốn trách móc đồng nghiệp. Đôi khi cảnh sát phải hành động dưới áp lực và phạm phải những sai lầm. Chỉ là với họ những sai lầm đó không được tha thứ. Cũng ổn thôi. Vì người ta thường trông chờ những câu trả lời chắc chắn, một nền tảng vững chắc để thực thi công lý. “Chúng tôi đang tìm kiếm cô ấy, ” Camusso liền nói. Và các ông không đơn độc, Sandra nghĩ cuối cùng cô cũng hiểu được vai trò của những linh mục ân giải trong câu chuyện đó. Bức tượng thiên thần bằng đá tỏa bóng xuống ông thanh tra. “Cô sinh viên đó tên là gì?” “Lara.”

H 11 giờ 20 phút ồ Nemi có diện tích gần 1,5 cây số vuông, nằm ở vùng Đồi Albani, phía nam Roma. Trên thực tế, nó là một miệng núi lửa. Có một truyền thuyết trong nhiều thế kỷ kể lại rằng trong lòng hồ sâu có chôn giấu những mảnh vỡ của hai con tàu khổng lồ, được trang hoàng lộng lẫy và được xây dựng theo lệnh của hoàng đế Caligola: chúng thực sự là những dinh thự nổi. Các ngư dân trong vùng trong một thời gian dài đã vớt lên những vật chứng. Sau rất nhiều nỗ lực, chỉ đến thế kỷ hai mươi, sau khi tát với một phần nước, người ta mới có thể trục vớt hai con tàu nhưng sau đó lại bị thiêu cháy trong bảo tàng lưu giữ chúng vào giai đoạn Thế chiến thứ hai. Người ta đổ lỗi cho lính Đức nhưng chưa bao giờ có bằng chứng rõ ràng. Những thông tin này có trong tập quảng bá du lịch mà Clemente để lại cho anh trong hòm thư họ thường dùng để trao đổi tài liệu. Giữa những trang giấy, cậu ấy kẹp hồ sơ tóm lược về ông bác sĩ phẫu thuật Alberto Canestrari. Không có gì đặc biệt lắm ngoại trừ một thông tin khiến Marcus phải thực hiện một chuyến dã ngoại bên ngoài thành phố. Trong lúc ngồi trên xe khách theo tuyến đi dọc bờ hồ, anh nghĩ lại mối liên hệ kỳ lạ giữa những địa điểm và ngọn lửa.

Như thể tái diễn số phận của một di sản bị thương, bệnh viện mà Canestrari sở hữu ở Nemi đã bị phá hủy trong một trận hỏa hoạn có chủ ý. Người ta chưa bao giờ tìm ra thủ phạm. Leo dọc lên con đường ngắm cảnh khá hẹp, chiếc xe khục khặc và bỏ lại phía sau một đoạn khói đen. Từ cửa sổ, Marcus nhận ra tòa nhà ám muội than nhưng vẫn còn sở hữu một tầm nhìn ra quang cảnh đáng ghen tị. Khi gần đến một khoảng đất trống, anh xuống xe và tiếp tục đi bộ. Anh đi qua một cánh cổng mà gần đó vẫn còn dựng tấm biển chỉ dẫn có tên bệnh viện nhưng không đọc được vì bị cây thường xuân bao phủ. Anh bước vào một con đường xuyên qua một khu rừng. Thảm thực vật tự do phát triển đã tấn công mọi khoảng không gian. Bệnh viện có hai tầng cộng thêm tầng trệt. Hẳn nó từng là một nhà nghỉ mát và đã trải qua rất nhiều lần tu sửa. Đây là vương quốc nhỏ của Alberto Canestrari, Marcus thầm nghĩ khi quan sát tòa nhà ám muội than khó có thể nhận ra. Tại đây, người đàn ông tự cho mình là người tốt ban tặng cuộc sống. Marcus lẻn vào hành lang, đi qua những gì còn lại của một cánh cửa bằng sắt. Bên trong rùng rợn không kém bên ngoài. Những hàng cột bao quanh tiền sảnh bị ngọn lửa thiêu đốt, giờ mỏng manh đến nỗi khó có thể tin rằng chúng vẫn còn đỡ nổi sức nặng của mái vòm. Sàn nhà có nhiều chỗ trồi lên và cỏ mọc ở giữa những khe nứt. Trên trần có một lỗ hổng từ đó người ta

có thể quan sát tầng trên. Trước mặt anh chình ình một cái cầu thang chia làm hai ngả. Marcus làm một vòng quanh các căn phòng, bắt đầu từ tầng hai. Chỗ đó có vẻ giống một cái khách sạn: toàn phòng đơn, đầy đủ tiện nghi. Từ những gì còn lại của đồ nội thất, người ta có thể nhận thấy một sự xa hoa nhất định. Bệnh viện của Canestrari hẳn phải thu được rất nhiều lợi nhuận. Anh đi qua ba phòng phẫu thuật. Ở đó lửa cháy dữ dội nhất, nó như bị dồn trong một cái lò được cung cấp năng lượng từ những thiết bị oxy và đã nung chảy mọi thứ. Chỉ có một lớp những thiết bị phẫu thuật và đồ dùng bằng kim loại kháng cự được ngọn lửa. Tình trạng của tầng trệt cũng tương tự như tầng phía trên. Ngọn lửa đã lan từ không gian này sang không gian khác. Người ta có thể nhận ra cái bóng trốn chạy của chúng được in trên những bức tường. Bệnh viện không có người vào thời điểm xảy ra hỏa hoạn. Sau cái chết của Canestrari, bệnh nhân cũng dần thưa thớt. Xét cho cùng họ tới đó là vì hy vọng và lòng tin tuyệt đối vào đức hạnh của vị bác sĩ phẫu thuật. Marcus định hình cho ý tưởng đã manh nha trong đầu anh vào thời điểm cuối cùng. Nếu ai đó phá hủy bệnh viện sau vụ tự tử của ông bác sĩ có lẽ vì sợ rằng ở đó che giấu thứ gì có thể gây nguy hại. Và đó cũng có thể là lý do tại sao chúng đặt camera siêu nhỏ trong phòng khám của ông ta và tại sao sáng hôm nay lại có hai tên khùng nổi đóa với anh. Có vẻ như chúng không phải là kẻ có ý đồ đen tối thông thường: mặc cả bộ vest tối màu,

chúng hẳn phải là những tên chuyên nghiệp. Chắc chắn ai đó đã thuê chúng. Marcus hy vọng ngọn lửa đã chừa ra thứ gì đó. Một linh cảm mách bảo anh hẳn sẽ là như thế, nếu không cả vụ điều tra của vị linh mục ân giải trước anh cũng sẽ bị đứt quãng. Nếu ông ta tìm được sự thật, cả mình cũng có thể tìm ra. Ở tầng trệt, Marcus đứng trước một căn phòng theo biển hiệu ở cửa là nơi lưu trữ rác thải của bệnh viện. Anh đoán rằng sau đó chúng sẽ được gửi tới những cơ sở tương ứng bên ngoài có nhiệm vụ tiêu hủy. Anh bước vào không gian chứa đầy các thùng, một phần đã tan chảy vì sức nóng. Sàn nhà được lát bằng những viên gốm sứ màu xanh nước biển, rất nhiều trong số chúng đã bị bong tróc vì sức nóng. Những viên khác thì cháy đen. Trừ một viên. Marcus quỳ xuống để quan sát nó kỹ hơn. Có vẻ như ai đó đã tháo nó ra, lau sạch và đặt lại vị trí cũ trong một góc phòng. Anh phát hiện ra nó không được gắn cố định và chẳng khó gì để dùng tay cậy nó lên. Nó che một cái hốc không sâu lắm, xuyên xuống chân tường. Anh thọc tay vào, sau khi sờ lần một chút, anh rút lên một cái ngăn kéo bằng kim loại. Cạnh dài nhất khoảng ba mươi centimet. Không có khóa, cũng chẳng có chốt. Anh mở nắp. Thoạt tiên, anh không hiểu thứ trước mặt là cái gì, phải mất một lúc

anh mới nhận ra cái vật dài và trắng nhợt được đựng trong hộp là một cái xương. Anh cầm nó lên, giữ nó trong cả hai tay và ngắm nghía. Từ hình dạng và kích thước, anh cho rằng nó là xương cánh tay người. Có vẻ như anh vẫn luôn biết điều đó, cho dù không hiểu kiến thức ấy từ quá khứ nào tới. Vào thời điểm này, anh không bận tâm lắm vì thấy mình còn biết một sự thật khác về khúc xương đó. Từ tình trạng vôi hóa có thể thấy rằng nạn nhân vẫn còn chưa đến tuổi dậy thì. Vậy ra sinh mạng mà Alberto Canestrari cảm thấy hối lỗi là của một đứa trẻ? Nỗi kinh hoàng làm Marcus sững sờ, ngừng thở và đôi tay run rẩy. Anh không đủ sức để có thể chịu đựng. Cho dù thử thách mà Chúa đang đặt ra cho anh là gì đi chăng nữa thì anh cũng không xứng đáng. Khi đang định làm dấu thánh, anh bỗng nhận ra một chi tiết. Một dòng chữ bé xíu được khắc trên khúc xương bằng một vật có đầu nhọn. Một cái tên. Astor Goyash. “Rất tiếc nhưng tôi sẽ lấy vật đó.” Marcus quay lại và nhìn thấy khẩu súng trong tay gã đàn ông. Anh nhận ra hắn. Chính là tên khùng mặc áo vest và thắt cà vạt đã cố tấn công anh ở phòng khám của Canestrari vài giờ trước. Anh không ngờ lại chạm mặt hắn. Tình huống mà họ đang phải đối mặt – cách trung tâm vài cây số, giữa rừng và ở một nơi

hoang vu – rõ ràng là một bất lợi lớn đối với anh. Anh sẽ chết ở đó, anh chắc chắn vậy. Nhưng anh không muốn chết thêm lần nữa. Tự dưng anh thấy cảnh tượng này quen quen. Anh đã từng cảm thấy sợ hãi trước một khẩu súng. Nó xảy ra trong căn phòng khách sạn ở Praha, vào cái ngày Devok bị giết. Đột nhiên, cùng với cảm xúc đó, Marcus lấy lại được một phần ký ức về chuyện đã xảy ra. Anh và thầy hướng dẫn của mình không chỉ tham dự như những khán giả thông thường. Đã xảy ra một cuộc ẩu đả. Và anh đứng đối diện với người đàn ông thứ ba, với tên tay sai thuận tay trái. Thế là, trong lúc đưa khúc xương cho tên khùng, Marcus đứng phắt dậy và lao bổ vào người hắn. Đối phương không đỡ nổi cơ thể của chính mình vì bị bất ngờ trước một phản ứng chớp nhoáng như thế. Theo bản năng hắn lùi về phía sau, vấp phải một trong số những cái thùng. Hắn đổ nhào xuống sàn, đánh rơi khẩu súng. Marcus cướp lấy vũ khí và chĩa vào mặt hắn. Trong anh bỗng có một cảm giác mới mẻ mà trước đây chưa từng thấy. Anh không tài nào kiểm soát được nó. Đó là sự thù ghét. Anh dí súng vào đầu gã đàn ông. Không nhận ra chính mình, anh chỉ mong muốn được bóp cò. Đúng lúc đó lời nói của tên kia ngăn anh nổ súng. “Ở dưới này!” Hắn hét lên.

Marcus hiểu ra ở phía trên là tên đồng bọn anh trông thấy sáng nay. Anh nhìn về phía cầu thang, anh chỉ có ít giây. Khúc xương ở gần gã đàn ông nằm dưới sàn hơn. Lấy lại nó là quá mạo hiểm, tên kia có thể tìm cách tước vũ khí của anh. Và giờ Marcus không còn sức để bắn nữa. Anh tẩu thoát. Anh leo lên cầu thang mà không gặp trở ngại gì. Anh lao thẳng về cửa hậu của tòa nhà. Khi ra được đến bên ngoài, anh liếc thứ vũ khí đang cầm trong tay trong giây lát. Anh quẳng nó đi. Đường tháo thân duy nhất là sườn đồi. Anh bắt đầu trèo lên, hy vọng rằng cây cối sẽ cản bước rượt đuổi. Anh chỉ nghe thấy tiếng thở hổn hển của chính mình. Một lát sau anh nhận ra chẳng có ai đuổi theo. Không kịp hiểu tại sao thì một viên đạn đã phập vào một cành cây, cách đầu anh có ít centimet. Anh đã trở thành mục tiêu. Anh lại tiếp tục chạy, cố tìm chỗ trú ẩn sau những bụi cây. Chân anh lún trong đất và có nguy cơ trượt ngã về phía sau. Chỉ có vài mét nữa là tới lề đường. Anh ì ạch với tay trên nền đất. Những phát súng khác. Suýt trúng. Anh tóm được một cái rễ cây và kéo nó lên, anh tới được chỗ một con đường nhỏ rải nhựa. Anh nằm duỗi thẳng, nghĩ là làm vậy chúng sẽ không nhìn thấy anh. Anh nhận ra mình bị chảy máu ở mạng sườn bên phải, nhưng viên đạn hẳn đã ra ngoài và anh không cảm thấy đau. Nếu như anh không khẩn trương ra khỏi đó, chúng đã tóm được anh.

Một ánh sáng làm anh chói mắt. Đó là ánh phản chiếu của một tia nắng vào kính chắn gió của một chiếc ô tô đang lao về phía anh. Anh thoáng thấy một gương mặt quen thuộc sau vô lăng. Đó là Clemente với chiếc Panda già nua của cậu. Cậu ấy tiến lại gần: “Lên đi, nhanh lên.” Marcus leo lên khoang ngồi. “Cậu làm gì ở đây thế?” “Sau khi anh nói với tôi về vụ tấn công ở phòng khám, tôi đã quyết định đến đây để kiểm tra xem mọi chuyện có ổn không, ” Clemente nói trong lúc tăng tốc. “Tôi đã nhìn thấy một chiếc xe ô tô khả nghi bên ngoài bệnh viện, tôi đang định gọi cảnh sát.” Cậu ta nhận ra vết thương ở bên sườn Marcus. “Mọi chuyện đều ổn, ” Marcus lên tiếng trước để trấn an cậu ấy. “Anh chắc chứ?” “Chắc,” anh nói dối. Vì anh không ổn cho lắm. Nhưng không phải do viên đạn vượt qua. Anh đã sống sót thêm lần nữa khi phải đối mặt với cái chết. Nhưng anh hối tiếc vì đã không bị mất trí nhớ lần nữa, vì giờ anh biết một thứ về mình mà anh không thích: Cả anh cũng có khả năng giết người. Anh chuyển ngay sang một chủ đề khác: “Tôi tìm được một khúc xương trong bệnh viện. Tôi cho nó là của một đứa trẻ.” Clemente không nói gì cả nhưng có vẻ xao động. “Tôi phải tháo chạy và đã bỏ nó ở đó.” “Đừng bận tâm, anh phải cứu mạng mình đầu tiên.”

“Có một cái tên khắc trên khúc xương, ” Marcus nói. "Astor Goyash. Chúng ta phải khám phá xem đó từng là ai.” Clemente nhìn thẳng vào mắt anh: “Ý anh là ai? Hắn ta vẫn còn sống và chắc chắn không còn là một đứa trẻ.”

B 13 giờ 39 phút ài đầu tiên mà Sandra Vega được học là những ngôi nhà không bao giờ nói dối. Vì thế cô quyết định đi thực địa tại căn hộ của Lara ở phố Coronari. Cô hy vọng sẽ nối lại liên lạc với vị linh mục ân giải có vết sẹo trên thái dương, vì cô muốn biết cô gái đó có thực sự là nạn nhân thứ năm của Jeremiah Smith. Có thể cô ấy còn sống, cô tự nhủ. Nhưng cô thiếu can đảm để tưởng tượng điều gì có thể xảy ra trong những khoảnh khắc đó. Vì vậy cô quyết định tránh càng xa càng tốt. Cô sẽ tiến hành quy trình chụp ảnh hiện trường. Thật tiếc là cô không mang theo chiếc Reflex. Thêm một lần nữa, cô sẽ phải tự hài lòng với camera của điện thoại. Nhưng hơn cả nhu cầu, đó là vấn đề về cách tư duy. Mình nhìn thấy những gì mà máy ảnh của mình thấy. Cô đã nghĩ sẽ giải phóng bộ máy của chiếc điện thoại bằng cách xóa các bức ảnh cô chụp ở nhà thờ Thánh Raimondo di Peñafort. Giữ lại chúng chỉ vô ích vì địa điểm đó chẳng liên quan gì tới vụ án. Nhưng sau đó cô nghĩ lại. Chúng là kỷ vật có ích để ghi nhớ ngày mà cô thoát chết trong gang tấc. Cô sẽ giữ gìn kinh nghiệm đó để không bị mắc bẫy thêm lần nữa.

Bước qua ngưỡng cửa phố Coronari, cô được chào mừng bởi một mùi bí bách và ẩm ướt. Chỗ đó cần phải được thông khí. Không cần tới chìa khóa để vào nhà, cánh cửa đã bị cảnh sát phá tung khi người nhà của cô gái báo mất tích. Cảnh sát đã không phát hiện ra thứ gì bất thường trong ngôi nhà chính thức là nơi cuối cùng Lara ở trước khi biến mất trong hư vô. Ít ra đó là những gì được xác nhận bởi đám bạn bè đưa cô về tối hôm xảy ra vụ mất tích và lịch sử các cuộc gọi cũng cho thấy cô sinh viên đã gọi hai lần từ ngôi nhà đó trước 23 giờ. Sandra ghi nhớ chi tiết đó trong đầu: nếu chúng bắt cóc cô ấy hẳn phải vào những giờ tiếp theo, nghĩa là ban đêm. Và điều này đối lập với thói quen của Jeremiah Smith là luôn hành động vào ban ngày. Hắn đã thay đổi cách thức hành động vì cô ấy, cô tự nhủ. Hắn phải có một cái cớ hay ho để làm việc đó. Cô đặt túi xuống đất và lấy điện thoại ra. Cô khởi động màn hình và nhanh chóng chụp. Cô sẽ tuân theo nguyên tắc trong sổ tay nghề nghiệp, vì thế đầu tiên cô miêu tả những nét chung như thể đang mang máy ghi âm với micro đeo tai. Rồi cô chuyển sang ngày tháng và địa điểm nơi mình đang có mặt. Cô sẽ cung cấp một bản miêu tả chính xác điều cô trông thấy trong khi chụp hình nó. “Căn hộ chia thành hai tầng. Ở tầng một là phòng khách có bếp. Nội thất khiêm tốn nhưng trang nhã. Kiểu nhà điển hình của một sinh viên xa nhà. Trừ điểm khác biệt là ngôi nhà này rất được chăm chút.” Thậm chí là hơi quá, cô thầm nghĩ.

Cô chụp một loạt ảnh về không gian xung quanh. Khi quay lại để chụp cửa ra vào, cô khựng lại trước một chi tiết. “Có hai ổ khóa. Một cái là dây xích và chỉ có thể mở ra đóng vào từ bên trong. Nhưng cả cái đó cũng bị bật tung.” Làm thế nào mà những đồng nghiệp của cô lại không nhận ra cơ chứ? Lara ở trong nhà khi cô ấy mất tích. Không có nghĩa gì cả. Cô nôn nóng khám phá ra bí ẩn, nhưng sự phát hiện có nguy cơ làm cô sao nhãng. Cô ghi âm lại sự việc bất hợp lý, nhưng muốn ưu tiên xem xét tầng phía trên. Bài thứ hai mà Sandra Vega được học là cả những ngôi nhà cũng chết, giống như con người. Nhưng Lara không chết, cô tự nhủ để thuyết phục mình. Sandra nhận ra ngay rằng nếu cô sinh viên bị bắt cóc trong giấc ngủ, Jeremiah Smith hẳn đã nhọc công dọn lại giường và mang đi một chiếc ba lô, vài bộ quần áo cùng với điện thoại của cô ấy. Nó phải được xem như ra đi có chủ đích. Nhưng ổ khóa đã lật tẩy hắn. Tuy nhiên hắn có đủ thời gian để xóa những dấu vết về sự hiện diện của mình. Làm thế nào hắn có thể vào và ra nếu như cửa bị khóa từ bên trong nhỉ? Mối nghi ngờ đó làm cô trăn trở. Cô chuyển sang chế độ chụp liên hoàn con gấu bông giữa những cái gối, tủ đầu giường với tấm hình của bố mẹ cô gái, bàn học phía trên có dự án một cây cầu còn đang dang dở, những tập sách kiến trúc được đặt trong tủ.

Có một sự đối xứng bất thường trong căn phòng đó. Điển hình của dân kiến trúc, cô nghĩ. Tôi biết cô đang giấu giếm thứ gì đó, nếu con quái vật chọn cô là vì nó biết cô. Hãy nói cho tôi biết nơi cô đang lưu giữ dấu vết đưa tôi tới chỗ hắn. Hãy cho tôi lời khẳng định rằng tôi có lý và tôi thề là sẽ di chuyển cả thế giới để tìm ra cô. Trong lúc khẩn cầu một tín hiệu từ phía Lara, Sandra tiếp tục miêu tả thành lời tất cả những gì cô trông thấy. Cô không thấy có thứ gì đặc biệt, ngoại trừ sự ngăn nắp đến ám ảnh. Vậy là cô điểm qua những hình ảnh cuối cùng trên màn hình điện thoại, hy vọng có chi tiết nào đó sẽ làm mình chú ý. Dưới bàn làm việc, có một chiếc thùng rác đầy khăn giấy đã dùng. Sự chăm chút mà Lara dành cho ngôi nhà khiến cô cho rằng cô gái này là người khá tỉ mẩn. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế là từ xuất hiện trong đầu cô. Chị gái cô cũng hệt như vậy. Có những thứ có nguy cơ làm chị ấy phát cuồng: ví dụ bức tranh về điếu thuốc trên bộ phận đánh lửa của xe chị ấy phải luôn luôn ở vị trí nằm ngang, các đồ trang trí luôn phải đặt theo thứ tự từ thấp đến cao. Từ công việc đến những ám ảnh nhất định, có vẻ như số phận con người cũng tham gia cuộc chơi. Cả Lara cũng vậy, sự đối xứng Sandra để ý trước đó không phải tình cờ. Bởi vậy, cô thấy rất lạ khi cô ấy không đi đổ giỏ rác đầy ứ đó. Sandra đặt điện thoại xuống và cúi người kiểm tra kỹ hơn những thứ bên trong. Ở giữa đống khăn giấy bỏ đi và những tờ ghi chép cũ, cô tìm thấy một mẩu giấy bị vo viên. Cô mở nó ra. Đó là hóa đơn của một tiệm thuốc.

“Mười lăm euro và chín mươi cent, ” cô đọc nhưng không thấy ghi tên thuốc. Từ ngày tháng cho thấy nó được mua khoảng hai tuần trước khi Lara mất tích. Trong giây lát, Sandra bỏ lửng việc chụp ảnh hiện trường. Cô bắt đầu kiểm tra các ngăn kéo, tìm kiếm loại thuốc có thể tương ứng với hóa đơn đó. Nhưng cô không tìm thấy. Thế là, cô cầm mẩu giấy đó trong tay, quay lại tầng dưới và đi thẳng về phía nhà vệ sinh. Đó là một phòng nhỏ, trong đó có cả kho để chứa chổi và nước giặt. Trên gương có một cái tủ. Sandra mở ra: thuốc được đặt riêng rẽ với mỹ phẩm. Cô bắt đầu lôi chúng ra ngoài và kiểm tra giá in trên vỏ hộp. Kiểm tra xong cái nào, cô lại đặt vào lavabo. Chẳng có loại nào có giá 15,9 euro. Nhưng Sandra biết rằng thông tin đó quan trọng. Cô đẩy nhanh tiến trình, phần nhiều vì căng thẳng hơn là cần kíp. Khi kết thúc, cô chống cả hai tay lên thành bồn, nghỉ vài giây để bình tĩnh trở lại. Cô hít thở thật sâu, nhưng buộc phải tống không khí ra ngoài vì trong đó mùi ẩm mốc còn mạnh hơn

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 51

Đang tải bình luận...