≈∙đã lược bỏ∙≈
Các nghiên cứu đầu tiên về Kinesiology2 nhận được sự quan tâm của giới khoa học trong nửa sau của thế kỷ trước nhờ công của tiến sĩ George Goodheart3, người đi tiên phong trong chuyên môn mà ông gọi là ứng dụng kinesiology sau khi ông phát hiện ra rằng sự
kích thích vật lý nhẹ nhàng (benign physical stimuli) – ví
dụ như việc bổ dung dinh dưỡng
có lợi – có thể làm gia tăng sức mạnh của các cơ chỉ thị (indicator muscles) nhất định, trong khi các kích thích gây hại (inimical stimuli) có thể làm cho các cơ chỉ thị này suy yếu đột ngột. Hàm ý là ở mức độ thấp hơn nhiều so với ý thức thuộc về nhận thức (não bộ
chưa kịp nhận thức được), cơ thể ‘đã biết’ và thông qua việc kiểm tra các cơ, cơ thể có
thể đưa ra các tín hiệu cho biết cái gì
tốt và xấu cho nó.
≈∙đã lược bỏ∙≈
2 Thuật ngữ Kinesiology có nghĩa là "nghiên cứu về sự vận động", và ngành học về Kinesiology bao gồm các tiểu ngành sinh lý học tập thể dục, cơ chế sinh học, tâm lý học thể thao và tập thể dục, huấn luyện thể
lực và y học thể thao, quản lý thể thao, giáo dục thể chất, thể dục và nâng cao sức khỏe.
3 George Joseph Goodheart, Jr. , D. C. (18/8/1918 – 5/3/2008) người chữa bệnh bằng phương pháp nắn khớp xương, ông đã sáng lập ra việc ứng dụng kinesiology.
11
Trong cuối những năm 70, tiến sĩ John Diamond4 đã cải tiến chuyên môn trên thành một môn học mới mà ông ấy gọi là nghiên cứu về sự vận động của hành vi (behavioral kinesiology). Phát hiện đáng ngạc nhiên của tiến sĩ Diamond là việc các cơ chỉ thị có thể
mạnh hơn hoặc suy yếu khi có sự hiện diện của các kích thích liên quan đến cảm xúc và tinh thần (emotional and intellectual stimuli) – tích cực hoặc tiêu cực, cũng giống như các
kích thích vật lý (physical stimuli). Một nụ cười có thể làm cho bạn có kết quả ‘test5
strong – cánh tay sẽ bị khóa (cố định) như cũ’ và câu nói ‘tôi ghét bạn’ sẽ khiến bạn
‘test weak – cánh tay sẽ không thể bị khóa (cố định) như cũ và rơi/buông thõng xuống’.
≈∙đã lược bỏ∙≈
Để thực hiện bài test vận động (kinesiological test) cần 2 người. Một người là bạn và người còn lại là bạn hoặc là người thân của bạn. Chúng tôi sẽ gọi người đó là ‘chủ thể
của bạn - your subject’
1. Chủ thể của bạn đứng thẳng, tay phải người đó duỗi thoải mái theo cơ thể, tay trái giơ
ra, song song với sàn nhà, cùi chỏ thẳng (có thể đổi thứ tự tay nếu muốn).
2. Bạn đối mặt vối chủ thể và đặt tay trái của bạn lên vai phải của để giữ chắc người đó.
Sau đó đặt tay phải của bạn đúng trên cổ tay của người đó (phần tay trái đang dang rộng)
3. Nói với chủ thể của bạn rằng bạn sẽ cố gắng đẩy tay trái của người đó xuống và người đó sẽ chống lại bằng tất cả sức mạnh của mình.
4. Bắt đầu đẩy tay của người đó xuống thật nhanh, kiên quyết và đều lực. Mục đích là chỉ
đẩy đủ lực để kiểm tra tính co dãn và đàn hồi (spring and bounce) của cánh tay mà không đẩy quá mạnh khiến các cơ bị mỏi. Nó không phải để xác định xem ai mạnh hơn mà chỉ để tự hỏi liệu các cơ có thể ‘khóa’ khớp vai chống lại lực đẩy hay không?
Giả sử không có vấn đề vật lý với các cơ và chủ thể bình thường, tâm trạng thoải
mái, đang không nhận các kích thích ngoại lai (no extraneous stimuli) (vì lý do này nên việc quan trọng là người làm test (bạn) không cười hoặc tương tác lại với chủ thể của mình),
các cơ sẽ ‘test strong’ – cánh tay sẽ bị khóa (cố định) như cũ. Nếu bài test được lặp đi lặp lại với sự hiện diện của các kích thích tiêu cực (ví
dụ, chất làm ngọt nhân tạo) thì ‘mặc dù
4 John Diamond (born 9 August 1934) is a physician and author on holistic health and creativity (là bác sĩ
và là tác giả về sự sáng tạo và sức khỏe toàn diện)
5 Bài test được Diamond phác thảo trong cuốn sách Your Body Doesn’t Lie (1979) của ông, được ông sửa đổi từ các các mô tả cổ điển trong cuốn Muscles: Testing and Function (Baltimore: Williams & Wilkins, 2nd ed. , 1971) củaH. O. Kendall
12
lần này bạn đẩy xuống không mạnh như những lần trước thì các cơ vẫn sẽ không thể kháng cự lại sức ép từ bạn và tay của chủ thể sẽ buông thõng xuống’.
Nghiên cứu của Diamond có tính thống nhất trong phản ứng của các chủ thể làm thí
nghiệm. Các kết quả nghiên cứu của ông có thể dự đoán được, có thể lặp lại và phổ cập.
Kết quả giống nhau cả khi không có sự liên kết hợp lý tồn tại giữa các kích thích và sự
phản hồi (stimulus and response). Vì
những lý do hoàn toàn không xác định, những ký
hiệu trừu tượng nhất định đã gây cho tất các các chủ thể kết quả ‘test weak’ và ngược lại ở
một số khác. Một số kết quả đang gây bối rối: những hình ảnh nhất định (ẩn dấu các nội
dụng tích cực và tiêu cực) có thể làm cho tất cả chủ thể bị ‘test weak’, trong khi những hình ảnh “trung lập” khác làm cho tất cả các chủ thể được ‘test strong’. Và một vài kết quả
đáng kể phỏng đoán: trong khi hầu như tất cả âm nhạc cổ điển (classical6 music) và hầu hết nhạc phổ thông (pop7 music) (bao gồm rock n roll8 ‘cổ điển’) đã tạo ra phản hồi mạnh mẽ khắp nơi, còn nhạc rock “hard” hay “metal” phổ biến cuối những năm 70 lại tạo ra phản hồi yếu ớt ở khắp nơi.
Có một hiện tượng khác mà Diamond đã ghi nhận lại mà không phân tích sâu hơn hàm ý lạ lùng của nó. Các chủ thể nghe các đoạn băng ghi âm và nhận thấy sự lừa gạt -
Lyndon Johnson biểu diễn trò chơi khăm Tonkin Gulf, Edward Kennedy là một tác nhân trong biến cố Chappaquiddick (Chappaquiddick incident9) – đa số có ‘test weak’. Trong khi nghe những bản ghi âm về các phát biểu về chân lý, có thể chứng minh thì đa số họ
đều có ‘test strong’. Đây là điểm khởi đầu của việc mà tác giả - bác sĩ và bác sĩ về tâm thần nổi tiếng David R. Hawkins làm trong cuốn sách này. Năm 1975, tiến sĩ Hawkins bắt đầu nghiên cứu về sự phản hồi vận động học (kinesiologic response) đối với chân lý (truth) và sự giả dối (falsehood).
Được hình thành bằng cách kiểm tra các chủ thể không cần bất kỳ sự hiểu biết nào ở mức ý thức với thực thể (hay vấn đề) được thí nghiệm. Trong các nghiên cứu mù đôi -
6 Cổ điển, thuộc về truyền thống lâu đời
7 Pop viết tắt của từ “popular”, phổ thông và rất phổ biến trong đại chúng 8 Ca từ đơn giản, phóng khoáng, cách trình bày sôi đô ̣ng hết mình với khán giả của ca sĩ, cùng với sự mới la ̣ và ma ̣nh mẽ bởi các du ̣ng du ̣ chơi nha ̣c đa số là kết hơ ̣p điê ̣n tử như : Ghi ta điê ̣n, trống, organ,…
9 Là vụ tai nạn do một chiếc xe đâm xuống sông (single-vehicle car accident) tại đảo Chappaquiddick Island, Massachusetts vào 18/7/1969, gây ra bởi sự cẩu thả của thượng nghĩ sĩ Mỹ Ted Kennedy và làm cho người phụ nữ đồng hành 28 tuổi Mary Jo Kopechne chết do bị kẹt trong xe. Tuy nhiên, sau khi điều tra người ta tin rằng Edward M. Kennedy đã vô tình điều chỉnh chiếc xe và sự điều chỉnh đã góp phần gây ra cái chết cho cô gái.
13
double-blind 10 - và trong các buổi diễn thuyết tập trung liên quan đến toàn bộ các khán giả
nghe diễn thuyết – các chủ thể đa số có ‘test weak’ tương ứng với các phong bì chứa các
viên làm ngọt nhân tạo không được làm dấu và ‘strong’ ứng với các phong bì chứa giả
dược giống hệt.
Cái dường như đang hoạt động/xảy ra là một dạng của ý thức mang tính cộng đồng (communal consciousness), linh hồn của vạn vật ( spiritus mundi 11), hay như Hawkins gọi nó theo Jung12 là một ‘cơ sở dữ liệu của ý thức’ (database of consciousness). Các hiện tượng thông thường trong các loài động vật có tính xã hội khác – tại sao một con cá đang bơi lội ven bờ của một trường học sẽ đổi hướng ngay lập tức khi một nhóm nghiên cứu sinh cách xa chúng ¼ dặm để trốn khỏi kẻ săn mồi – gắn liền với một số hành động bản năng đối với giống loài của chúng như vậy. Đơn giản là có quá nhiều trường hợp các cá nhân có sự hiểu biết rõ ràng các thông tin, đã trải nghiệm trực tiếp với những sự việc hơi xa lạ, để không nhìn nhận rằng đó là các dạng kiến thức đã được chia sẻ, trừ khi chúng
được chấp nhận bởi các ý thức hợp lý. Con người cho rằng cái (mà họ cho là đúng) là đúng. – Chỉ tin cái bản thân muốn tin. Hoặc có lẽ, đơn giản hơn, sự sắc sảo giống nhau của sự khôn ngoan ít hợp lý hơn bên trong, có thể tách rời sự khỏe mạnh khỏi sự không
khỏe mạnh, có thể tách biệt sự đúng đắn khỏi sự sai trái (Bỏ đi “định kiến” mới có thể thấy được “bản chất” thật sự).
Một yếu tố gợi ý mức độ cao của hiện tượng này là bản chất nhị phân/nhị nguyên hay bản chất kép (binary nature) của sự phản hồi (Chọn một trong hai. Tương tự Yes –
No question, câu trả lời sẽ là yes hoặc no; Với phản hồi thì
sẽ là phản hồi A hoặc B. A và
B là đối lập, ví
dụ tích cực – tiêu cực) . Hawkins đã phát hiện ra rằng các câu hỏi phải được
diễn đạt để câu trả lời rõ ràng là yes hoặc no, giống như khớp nối giữa các dây thần kinh (nerve synapse) có kết nối hay không (on or off), nó cũng giống như các dạng tế bào cơ bản nhất của ‘ sự hiểu biết - knowledge’; giống rất nhiều cái mà các nhà vật lý học tiên tiến nói với chúng ta là bản chất quan trọng của năng lượng mang tính vũ trụ (essential nature of 10 Tất cả các đối tượng tham gia thí nghiệm đều không biết trước quá trình thí nghiệm 11 Là thuật ngữ Latin có nghĩa đen là linh hồn của vạn vật – world spirit, thuật ngữ này được sử dụng bởi W. B. Yeats mô tả tập hợp các linh hồn của vạn vật bao gồm tất cả các ký ức vĩnh cửu 12 Là Carl Gustav Jung, một bác sĩ tâm thần, một nhà tâm lý học Thụy Sĩ. Nổi tiếng nhờ ông thành lập một trường phái Tâm Lý học mới có tên là "Tâm Lý Học Phân Tích"(‘analytical psychology’) nhằm phân biệt với trường phái "Phân Tâm Học" (‘psychanalysis’) của Sigmund Freud.
14
universal energy). Bộ não của con người, ở một vài mức độ nguyên sơ, một cỗ máy vi tính
kì
lạ kết nối với khoảng không rộng lớn của năng lượng vũ trụ, liệu chúng có hiểu biết sâu sắc hơn cái mà chúng biết là chúng biết hay không?
Dù điều đó có đúng đi nữa. Trong các nghiên cứu kéo dài của tiến sĩ Hawkins, khám phá hay nhất của ông là cách thức phân độ trên một thước đo chân lý tương đối (relative truth) cho các lập trường trí
tuệ (intellectual positions), các phát biểu, hay các ý thức hệ
(ideologies), có thể được phân loại trong phạm vi từ 1 đến 1000. Hawkins có thể xác định mức độ chân lý tương đối (phạm vi từ 1 – 1000) cho các lập trường, phát biểu, hay ý thức hệ. Chân lý tương đối của một phát biểu, ví
dụ như Tuyên ngôn độc lập được Hawkins
hiệu chỉnh ở mức 700/1000). Hàm ý lớn lao của các sự hiệu chuẩn này là lần đầu trong lịch sử loài người, giá trị tư tưởng (ideological validity) có thể được đánh giá như là một phẩm chất bẩm sinh (innate quality) của bất kỳ chủ thể nào.
Thông qua 20 năm hiệu chuẩn tương tự, Hawkins có thể phân tích quang phổ hoàn chỉnh (full spectrum) của các mức độ ý thức con người (levels of human consciousness), phát triển bản đồ hấp dẫn (fascinating map) địa lý học thông qua những trải nghiệm trong đời của người đó. Sự giải phẫu ý thức (anatomy of consciousness) này tạo ra một hồ sơ
nhân thế hoàn chỉnh (entire human condition), cho phép phân tích toàn diện sự phát triển
về mặt tinh thần và cảm xúc (emotional and spiritual development) của các cá nhân, các xã hội và sự cạnh tranh trong tập thể. Quan điểm quá sâu sắc và có ảnh hưởng sâu rộng cung cấp không chỉ một sự hiểu biết mới về cuộc hành trình của con người trong vũ trụ
(man’s journey in the universe) mà nó còn dẫn lối cho tất cả chúng ta về việc chúng ta và những người hàng xóm của chúng ta đang ở nơi nào trên những nấc thang giác ngộ về mặt tinh thần (ladder of spiritual enlightenment), và trong chuyến hành trình riêng của chính
mình để trở thành người mà chúng ta có thể trở thành.
15
Trong tác phẩm này, tiến sĩ Hawkins mang đến thành quả của nhiều thập kỷ nghiên cứu và nhìn thấu sự rực rỡ sâu sắc của các khám phá mang tính cách mạng trong vật lý hạt
nâng cao (advanced particle physics) và động lực học phi tuyến (nonlinear dynamics). Lần đầu tiền trong văn khố trí tuệ phương Tây, ông ấy cho thấy rẳng ánh sáng lãnh đạm của khoa học đang thừa nhận rằng sự huyền bí
và các thánh thần (mystics and saints) đã luôn
nói về bản thân, chúa trời, và bản chất của thực tại (nature of reality). Nhìn vào sự tồn tại,
bản chất và thánh thần cho thấy một bức tranh về mối quan hệ của con người đối với vũ
trụ duy nhất bên trong khả năng tiếp nhận của chính nó để thỏa mãn cả tâm hồn và lý trí
(soul and reason). Thành quả to lớn cả về trí
tuệ và tinh thần ở đây, nhiều hơn những thứ
bạn có thể lấy, và nhiều hơn nữa những thứ bạn có thể giữ lại cho riêng mình. - There is a
rich intellectual and spiritual harvest here, much that you can take, and much more that you can give yourself.
Turn the page. The future starts now.
Sang trang. Tương lai bắt đầu ngay lúc này.
E. Whalen, chỉnh sửa
Nhà xuất bản Bard Press
Arizona, 1995
16
ORIGINAL PREFACE – LỜI NÓI ĐẦU NGUYÊN GỐC
≈∙đã lược bỏ∙≈
Tiến sĩ Diamond tiến xa hơn, bằng việc khám phá ra rằng sự phản hồi vận động học phản ánh cơ thể người (human organism) có khả năng tách rời không chỉ tính tích cực khỏi
các kích thích tiêu cực, mà còn tách rời sự đồng hóa - anabolic (tăng cường sự sống - life-enhancing) khỏi sự dị hóa - catabolic (phá hủy sự sống - life-consuming), và đáng chú ý nhất là tách rời đúng khỏi sai.
≈∙đã lược bỏ∙≈
Phản ứng cơ tích cực xảy ra để phản hồi lại một tuyên bố đúng đắn khách quan;
phản hồi tiêu cực xảy ra nếu chủ thể kiểm tra được tiếp xúc với một phát biểu sai lầm.
Hiện tượng này xảy ra một cách độc lập với chủ kiến và sự hiểu biết về chủ đề đó của
chính chủ thể kiểm tra, nó vượt qua phương diện văn hóa trong nhiều cộng đồng và
nhất quán theo thời gian.
≈∙đã lược bỏ∙≈
Các các mức độ nhận thức của con người phân thành các cấp năng lượng (degree
of power) được xếp trong một thang chia độ ý thức từ 1 đến 1000. Phân tầng năng lượng
có liên quan đến các mức độ ý thức đối với tất các các những gì mà người đó đã trải