≈∙đã lược bỏ∙≈
Sự phân tầng (stratification) các mức độ năng lượng trong cảm xúc của con
người (power in human affairs) hé lộ sự khác biệt đáng chú ý giữa năng lượng và sự
ảnh hưởng với phẩm cách riêng (respective qualities) của mỗi người. Điều này dẫn đến việc khám phá các khu vực năng lượng vô hình (invisible energy fields) điều khiển
hành vi để giải thích rõ ràng về hành vi của con người. Ngay lập tức, thang phân độ
17
tương ứng với các phân lớp biểu lộ rõ ràng trong hệ thống triết học vĩnh cửu (the hierarchy of the perennial philosophy); sự tương quan với các hiện tượng cảm xúc và tinh thần trong xã hội học (sociology), tâm lý học lâm sàng (clinical psychology), phân tích tâm lý/ phân
tâm học (psychoanalysis) và tâm linh truyền thống (traditional spirituality).
Thang phân độ được xây dựng dựa trên các khám phá trong vật lý lý thuyết nâng cao và động lực học phi tuyến của thuyết hỗn loạn/thuyết hỗn mang (chaos
theory). Các mức phân độ đại diện cho những khu vực hấp dẫn năng lượng ở trong
khu vực của bản thân ý thức (domain of consciousness itself), là nơi kiểm soát đời sống con người và vì thế nó thể hiện nội dung, ý nghĩa và giá trị, và nó hoạt động như các
năng lượng cấu thành (organizing energies) những khuôn mẫu/mẫu hình/chuẩn mực
phổ biến (widespread patterns) trong hành vi của con người.
Sự phân tầng các khu vực hấp dẫn này dựa theo các mức độ tương ứng của ý thức, nó cung cấp một thế giới quan mới (new paradigm) để tái cơ cấu (recontextualize)
các trải nghiệm của một người trong suốt cuộc đời họ (human experience throughout
all time). Trên thực tế, đây là sự tiếp cận “một thông tin” dù có tồn tại - nhưng không thể
tiếp cận, hứa hẹn sẽ đem đến giá trị tuyệt vời cả trong lịch sử nghiên cứu và lợi ích to lớn
có thể mang lại cho tương lai loài người.
≈∙đã lược bỏ∙≈
Cuốn sách này cho thấy chỉ cần một khám phá khởi đầu về tiềm năng/khả năng để
nâng cao sự hiểu biết của chúng ta trong cả nghệ thuật và khoa học. Nó giống như một sự
hỗ trợ trong sự phát triển tinh thần (aid in spiritual growth) và sự mở mang (maturation) đến các mức độ mở rộng nhất của ý thức, thậm chí là bản thân sự giác ngộ (enlightenment itself).
≈∙đã lược bỏ∙≈
Với quan niệm rằng bất cứ điều gì
hay bất cứ ai, bất cứ đâu, tại bất cứ thời điểm nào
đều có thể biết được, ban đầu sẽ tạo ra một cú sốc đối với thế giới quan (paradigm). Các quan niệm bất định vị/phi định xứ (nonlocality), khách quan (impersonality) và tính vũ trụ
của bản thân ý thức (universality of consciousness itself); và đặc biệt là quan niệm về khả
18
năng quan sát các suy nghĩ và các động cơ (thoughts and motivations) của một người và chúng rõ ràng lên theo thời gian. Mọi suy nghĩ và hành động của một người để lại một dấu vết vĩnh viễn không thể xoá bỏ (indelible trace forever) trong vũ trụ.
Như trường hợp của việc khám phá ra các sóng vô tuyến hay các tia x là sự mở
mang bất thình lình đối với nhận thức của chúng ta về các hoạt động của vũ trụ, điều này không chỉ cho phép mà còn yêu cầu tái cơ cấu thế giới quan của chúng ta. Hàm ý của các kiến thức mới yêu cầu sự tái cơ cấu các ý tưởng cũ, để nó trở thành một hoàn cảnh lớn hơn.
Sự tái cơ cấu một cách khoa học các hành vi của con người có thể phơi bày ra các cấu trúc cơ bản là nền tảng của các vấn đề cá nhân và xã hội.
Bởi vì
khách thể (subject matter) thực tế đơn giản dị thường, nhưng khó để thể hiện rõ trong một thế giới say mê sự phức tạp (enamored of complexity). Mặc cho sự hồ nghi (mistrust) của chúng ta về sự đơn giản hóa (simplification), có thể thấy có 2 loại người nói chung trên thế giới: những người tin và những người không tin (believers and nonbelievers).
Đối với những người không tin, mọi thứ là sai trái cho đến khi được chứng minh là đúng; đối với những người tin, mọi thứ gọi là có thiện ý (in good faith) có thể đúng đắn trừ khi nó được chứng minh là sai. Thái độ bi quan (pessimistic position) của chủ nghĩa hoài nghi thích chỉ trích xuất phát từ sự sợ hãi. Nhiều thái độ lạc quan (optimistic manner) chấp nhận các thông tin phát sinh từ chính sự tự tin. Thậm chí các chương trình kiểu mẫu, tất cả chúng
có đều có những ưu và khuyết điểm riêng (pros and cons). Tôi đã gặp phải, do đó, với vấn đề về trình bày dữ liệu ở một mức độ nào đó sẽ thỏa mãn cả 2 phương pháp tiếp cận.
Cuốn sách này, do đó, viết theo phong cách nghịch hợp13 để thuận tiện cho việc lĩnh hội cả bằng cả não trái và não phải14. Trong thực tế, chúng ta biết mọi thứ nhờ
việc thừa nhận khuôn mẫu toàn diện (holistic pattern-recognition). Cách dễ dàng nhất để năm bắt một khái niệm hoàn toàn mới đơn giản là bởi sự quen thuộc. Dạng hiểu 13 Oxymoron “phép nghịch hợp”, là khi hai khái niệm trái ngược được đặt cạnh nhau để tạo ra một hiệu ứng mang tính thơ ca
14 Bộ não của chúng ta được chia làm hai bán cầu, mỗi bên thực hiện các chức năng khác nhau. Và việc sử
dụng bán cầu não phải hay trái nhiều hơn sẽ quyết định những kỹ năng và sở thích của chúng ta.
Bán cầu não trái có chức năng ngôn ngữ, chịu trách nhiệm xử lý những thông tin mà con người nghe được và đưa ra những câu trả lời phù hợp. Ngoài ra, bán cầu não trái giúp con người giải quyết các vấn đề liên quan tới logic và tính toán chính xác.
Bán cầu não phải chủ yếu chịu trách nhiệm về khả năng không gian, nhận diện khuôn mặt và cảm thụ âm nhạc. Nó cũng có thể xử lý các thông tin liên quan tới toán học, nhưng chủ yếu là ước lượng sơ bộ và so sánh. Bên cạnh đó, não phải giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của hình ảnh. Nó đóng một phần vai trò đặc
biệt trong ngôn ngữ, giúp ta giải thích bối cảnh trò chuyện và âm điệu của người đối diện.
19
biết này được xây dựng bởi một lối biên soạn đặc trưng là ‘sự khép kín – closure’. Thay vì
chỉ sử dụng các tính từ rải rác hay các ví
dụ để bày tỏ suy nghĩ, chúng được thay đổi vị trí
và hoàn thành bằng cách sử dụng sự lặp lại (repetition). Khái niệm này sau đó ‘được chấp nhận – done’ và ‘tâm hồn – mind’ trở nên thư thái.
Ý tưởng phải bắt đầu từ chương 1 và đọc dần cho đến cuối là khái niệm chỉ phù hợp với não trái. Đó là đường mòn đi bộ của vật lý học thuyết Newton (Newtonian physics), dựa trên một tầm nhìn hạn chế và giới hạn về thế giới trong tất cả các sự kiện giả định xảy
ra liên tục theo trình tự A→B→C. Dạng cận thị/ tầm nhìn ngắn (myopia) phát sinh từ một
thế giới quan lỗi thời về thực tế. Tầm nhìn rộng lớn và toàn diện hơn của chúng ta vẽ ra
không chỉ trên bản chất của phần lớn vật lý học, toán học và thuyết phi tuyến (nonlinear theory) nâng cao, mà còn trên các trực giác (intuitions) có thể được xác nhận bẳng việc trải nghiệm bởi bất kỳ ai.
Nói chung, thách thức trong việc trình bày nằm trong nghịch lý15 (paradox) bao gồm
các khái niệm phi tuyến trong tuyến tính, cấu trúc câu này sang câu khác (sentence-by-
sentence structure). Lĩnh vực khoa học nơi dữ liệu thể hiện bản chất phức tạp và đủ khó khăn: vật lý học lý thuyết nâng cao và toán học của nó; sự vận động phi tuyến; học thuyết hỗn mang và toán học của nó; vận động học hành vi nâng cao; sinh học thần kinh (neurobiology); thuyết dòng chảy rối (turbulence theory); cũng như những cân nhắc mang tính triết học về nhận thức học và bản thể học (epistemology and ontology). Ngoài điều này ra, cần đề cập đến bản chất của bản thân ý thức của con người, một khu vực chưa được khám phá, thuộc phạm vi mà khoa học tất cả đều thoái lui. Để hiểu chắc chắn các đối tượng này từ một quan điểm trí
tuệ thuần khiết (purely intellectual viewpoint) có thể trở thành một kế hoạch khó khăn táo bạo, cần cả đời để nghiên cứu. Thay vì
thử làm một việc ghê
gớm như thế, tôi đã cố gắng để chắt lọc ra bản chất của mỗi chủ thể và chỉ làm việc với những bản chất ấy.
Thậm chí
một nỗ lực đơn giản để giải thích sự hoạch động của kỹ thuật kiểm tra cơ
bản cho cuốn sách này, dường như bắt đầu vượt quá các quy tắc đã biết của vũ trụ, chắc chắn sẽ dẫn chúng ta vào lãnh thổ trí
tuệ của vật lý lý thuyết nâng cao (advanced theoretical
physics), động lực học phi tuyến (nonlinear dynamics) và lý thuyết hỗn độn và thuyết hỗn 15 Nghịch lý là một khẳng định có vẻ như mâu thuẫn với chính nó, nhưng có thể đúng (hoặc đồng thời có thể sai). Một số nghịch lý logic được biết đến là lý luận sai lầm nhưng vẫn có giá trị trong việc thúc đẩy tư
duy phản biện.
20
loạn/thuyết hỗn mang (chaos theory). Vì
vậy, tôi đã cố gắng để trình bày các môn chủ đề
này càng nhiều càng tốt bằng những khái niệm không chuyên. Không cần phải lo lắng rằng cần có một số khả năng trí tuệ uyên bác (erudite intellectual capacity) để tiêu hóa tài liệu này. Không phải vậy; Chúng ta sẽ xoay quanh các khái niệm tương tự lặp đi lặp lại cho đến khi chúng trở nên rõ ràng. Mỗi lần chúng tôi quay trở lại và giải thích bằng một ví
dụ,
chúng ta sẽ hiểu sâu hơn. Loại học tập này giống như quan sát vùng đất mới từ trên máy bay: lướt qua lần đầu, mọi thứ trông không quen thuộc; Vòng lại lần thứ hai, chúng ta thấy một số điểm quen quen; Lần thứ ba, nó bắt đầu có ý nghĩa, và cuối cùng chúng ta đã đạt được sự quen thuộc thông qua tiếp xúc đơn giản. Cơ chế thừa nhận một khuôn mẫu bẩm sinh của tâm trí
sẽ lo phần còn lại.
Tâm trí con người cá nhân giống như một máy tính kết nối với một cơ sở dữ liệu
khổng lồ. Cơ sở dữ liệu chính là ý thức con người, trong đó ý thức của chúng ta chỉ đơn
thuần là một biểu hiện cá nhân, nhưng với nguồn gốc của nó trong ý thức chung của tất cả nhân loại. Cơ sở dữ liệu này là lĩnh vực của tài năng (Genius); Bởi vì để được con người là tham gia vào cơ sở dữ liệu, tất cả mọi người, bởi đức hạnh của sự ra đời của họ, có quyền truy cập vào tài năng/năng lực đặc biệt này. Thông tin không giới hạn chứa trong cơ sở dữ liệu bây giờ đã được hiển thị để có sẵn cho bất cứ ai trong một vài giây, bất cứ
lúc nào và ở bất cứ nơi nào. Đây thực sự là một khám phá đáng kinh ngạc, mang lại sức mạnh để thay đổi cuộc sống, cả cá nhân và tập thể, đến một mức độ chưa bao giờ được dự
đoán.
≈∙đã lược bỏ∙≈
Chúng ta có trong tầm tay của chúng ta một phương tiện để phân biệt chính xác
chân lý từ sự giả dối, có thể thực hiện được từ những điều không khả thi, từ thiện. Chúng ta có thể soi sáng các lực lượng ẩn, cho đến nay vẫn bị bỏ qua, xác định hành vi của con người. Chúng tôi có theo cách của chúng tôi một phương tiện để tìm câu trả lời cho các vấn đề cá nhân và xã hội chưa được giải quyết trước đây. Sự giả dối không còn cần phải ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta nữa.
≈∙đã lược bỏ∙≈
21
Trẻ em hưởng ứng một việc ngay lập tức và làm theo với niềm vui. Không lấy gì làm
ngạc nhiên. Vì
chúng luôn biết rằng chúng được kết nối với cơ sở dữ liệu; Người lớn chúng ta chỉ đơn thuần quên nó. Các tài năng bẩm sinh của trẻ em thể hiện ra bên ngoài, đó là lý do tại sao trẻ em thấy rằng hoàng đế không mặc bất kỳ quần áo gì
Tài năng là như thế.
Tôi sẽ thành công nếu cuối cùng bạn kêu lên, "Tôi luôn biết điều đó!" Những gì
có trong đây chỉ là sự phản chiếu những gì bạn đã biết, nhưng bạn không biết là mình
biết. Tất cả những gì
tôi hy vọng làm ở đây là kết nối các dấu chấm để cho hình ảnh ẩn
hiện ra.
Cuốn sách này đưa ra một lời hứa rất lớn, có lẽ là lời hứa lớn nhất đã từng được thực hiện cho bạn. Nó có thể cung cấp cho bạn các phương tiện mà bạn có thể phát hiện nếu bạn đang bị lừa dối.
≈∙đã lược bỏ∙≈
Hy vọng của tôi với tư cách tác giả là công việc này có thể lùi lại được những nguồn đau đớn, đau khổ và thất bại, và hỗ trợ sự tiến hóa của ý thức con người trong mỗi chúng ta để tăng lên mức độ vui tươi, đó là cốt lõi của kinh nghiệm của con người.
≈∙đã lược bỏ∙≈
David R. Hawkins, M. D. , Ph. D.
Viện nghiên cứu tinh thần
Sedona, Arizona, 1995
22
NEW FOREWORD – LỜI TỰA MỚI
≈∙đã lược bỏ∙≈
Cuốn sách này mang lại cho con người sự kết hợp thuyết phục nhất của nó cho đến bây giờ giữa thế giới tuyến tính của logic, lý trí
và khoa học với thực tế phi tuyến tính của
tình yêu, niềm vui, cái đẹp, sự tự siêu nghiệm16 (self-transcendence), kết hợp huyền bí và
giác ngộ (mystica and enlightenment)
Tiến sĩ David R. Hawkins là một tác giả nổi tiếng thế giới, bác sĩ tâm thần, bác sĩ
lâm sàng17, giáo viên tâm linh, và nhà nghiên cứu về ý thức. Tác phẩm độc đáo của ông phát sinh từ suối nguồn của lòng trắc ẩn mang tính vũ trụ và được dành riêng cho sự an ủi trên khắp thế giới và mọi cõi.
Bằng cách khẳng định thực tế mang tính tinh thần chính là bản chất của cuộc sống
con người và thần học (Divinity) chính là nguồn gốc của ý thức, công trình này cho thấy mọi khí
a cạnh trong sự trải nghiệm của con người sẽ trở thành biểu hiện của và là con đường dẫn tới sự tối hậu18 (the Ultimate).
≈∙đã lược bỏ∙≈
Tiến sĩ Hawkins làm việc với cái bệnh tật nhất của bệnh tật (sickest of the sick).
Phương pháp của ông ấy giải quyết vấn đề chữa lành và làm bệnh nhân khá hơn thông qua vật lý, tâm thần và các mức độ tinh thần. Các nghiên cứu của tiến sĩ Hawkin đã xác nhận các trạng thái hạnh phúc và tình yêu mà người nghiện ma túy và nghiện rượu tìm kiếm, họ
có thể tìm ra bên trong chính mình, thông qua cố gắng nội tại và sự thuận theo.
What the addict is seeking is not to be ashamed of. The whole spiritual world wants to reach that blissful state of consciousness.
Change your technique, not your aspiration. The state doesn’t have to be sought; it is always within us.
16 Siêu nghiệm là ngoài kinh nghiệm
17 Lâm sàng là căn cứ trên quan sát người bệnh trực tiếp và lý luận trên cơ sở của những "triệu chứng" mà mình thấy, nghe, sờ và ngửi được.
18 Tối hậu là cuối cùng, không còn có thể có gì khác nữa
23
Những gì người nghiện đang tìm kiếm không phải là điều xấu hổ. Toàn bộ thế giới tâm linh muốn đạt tới trạng thái hạnh phúc của ý thức.
Thay đổi phương pháp của bạn chứ không phải mong muốn của bạn. Trạng thái không cần phải tìm kiếm; Nó luôn ở bên trong chúng ta.
≈∙đã lược bỏ∙≈
Cuốn sách này, Power vs. Force, truyền đi một bước đột phá lớn cho tâm hồn con người, nó phác họa các kích thước của ý thức mà trước đây chỉ được biết đến đối với các nhà thần bí
trong lịch sử. Như vậy, khả năng thấu triệt rõ ràng (direct realization) về thực tại (hay bất cứ tên gọi nào khác), luôn luôn khẳng định ý nghĩa hàng đầu của thế giới vô hình (unseen).
The outer work can never be small
Kết cấu bên ngoài có thể không bao giờ
if the inner work is great.
nhỏ bé nếu kết cấu bên trong vĩ đại
And the outer work can never be great
Và kết cấu bên ngoài có thể không bao
if the inner work is small.
giờ vĩ đại nếu kết cấu bên trong nhỏ bé
~ Meister Eckhart, nhà “huyền bí
/huyền nhiệm” đạo cơ đốc ở thế kỷ 14 (14th-
century Christian mystic)
Meister Eckhart đã chỉ cho chúng ta nhận ra sự rộng lớn bên trong (inner greatness)
của chúng ta bởi mọi thứ trong thế giới hữu hình đều xuất phát từ nội giới/không gian
bên trong (inner planes). Giống như tiến sĩ Hawkins viết trong trang mở đầu của cuốn sách:
Sự hiểu biết tường tận không phải là hiển nhiên
Chúng dường như giản đơn
Thứ mà những ai thấu hiểu sẽ nhận ra những chuẩn mực
về sự tuyệt đối
Nhận ra những chuẩn mực này là sức mạnh huyền diệu
Sức mạnh huyền diệu điều khiển mọi thứ và
nó vô danh
≈∙đã lược bỏ∙≈
24
Bản đồ ý thức (Map of Consciousness) nổi tiếng của Hawkin đã khẳng định rằng
các trạng thái (stages) mang tính cổ điển của sự tiến hóa bên trong của con người đã
được tìm thấy trong văn học tôn giáo trên thế giới là điều có thực, các mẫu hình thu
hút/hấp dẫn (attractor patterns) và các khu vực năng lượng (energy fields) có thể đo lường được. Các mức độ này đã được các triết gia, thần thánh, hiền triết và nhà huyền bí gợi ra qua nhiều thế kỉ; nhưng chưa bao giờ có một khuôn khổ khoa học để hiểu chúng và từ đó, tiến tới tự do tối hậu (ultimate freedom). Bản đồ ý thức không bị ảnh hưởng bởi tín
ngưỡng và sự nhầm lẫn lâm sàng trong việc mô tả sự tiến bộ mang tính cảm xúc, quan điểm của Chúa, quan điểm bản thân và quan điểm cuộc sống, do đó, nó chính xác với từng mức độ ý thức.
Năng lượng và sự ảnh hưởng thể hiện một sự thuyết phục logic về giải phẫu học đối với ý thức, nó thiết kế/tạo ra cung tiến hóa mang tính tinh thần của con người từ biểu hiện
ở mức độ thấp nhất (sự xấu hổ) cho đến cao nhất (sự giác ngộ). Nó làm rõ sự duy nhất của tất cả tạo vật bằng sự tiết lộ bản chất năng lượng của mọi vật đang tồn tại – cả con người lẫn không phải con người, cả thế giới hữu hình lẫn vô hình. Tất cả sự sống đều được tiết lộ
để trở thành một bản giao hưởng nhịp nhàng (pulsating symphony) của các năng lượng đang tương tác lẫn nhau: “Sự phụ thuộc lẫn nhau và thâm nhập vào nhau của tất cả mọi thứ có thể thấy giống như là một phần của thuyết nhị nguyên19. Sự duy nhất là trung trung tâm của tất cả các tôn giáo và các hệ thống tinh thần giống như thực tại tối hậu (ultimate reality) là nền tảng và nội tại của tất cả các dạng thức. – The mutual dependence and interpenetration of all things is observable as one leaves duality. Oneness is central to all of the major religions and spiritual systems as the ultimate reality underlying and within all forms. ”
Cuốn sách này cung cấp lời giải thích thực tế và lâm sàng để chắc chắn các
nguyên lý cốt lõi được nắm bắt chính xác đối với các nền văn hóa: tình yêu mạnh mẽ
hơn sự thù hận, chân lý làm chúng ta thanh thản; tha thứ giải phóng cả 2 bên; sự
chữa lành của tình yêu vô điều kiện; truyền đi lòng dũng cảm; và bản chất của thần học/thực tế là hòa bì