Trường Năng Lượng Và Hành Vi Con Người

nh.

nh.

19 Thuyết nhị nguyên là một học thuyết triết học thừa nhận sự tồn tại độc lập của hai thực thể. Có nhiều dạng nhị nguyên, một trong số đó là thuyết nhị nguyên về triết học xem vật chất và ý thức (hay tinh thần), tạo thành hai nguồn gốc của thế giới. Đây là quan điểm của một số nhà triết học trong việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học: ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào.

25

Trong khi những điều này từ lâu đã là một sự hiểu biết mang tính trực trong các tổ

chức về tâm linh con người và đã được khẳng định bởi những nhà huyền bí

hiếm có, những

người đã từng trải qua. Chúng ta bây giờ đã có bản đồ mô hình hóa mang tính khoa học và dễ dàng tiếp cận, nó sẽ chỉ ra con đường để giải thoát con người (human freedom).

Các mức độ ý thức (“các vùng năng lượng”) được hiệu chỉnh theo ảnh hưởng có thể đo lường được của chúng. Với mỗi sự gia tăng tiến bộ trong mức độ ý thức,

“tần số - frequency” hay “rung động – vibration” của năng lượng sẽ tăng lên. Do đó, ý thức cao hơn sẽ phát ra năng lượng có lợi và chữa lành cho thế giới, và có thể kiểm chứng thông qua sự phản hồi của các cơ, chúng sẽ vẫn giữ nguyên (strong) đối với tình yêu

và chân lý. Ngược lại các khu vực năng lượng tiêu cực hay không chính xác tạo ra sự

phản hồi yếu ớt (weak). Những điều làm suy yếu năng lượng của cuôc sống cần phải tránh là sự xấu hổ, tội lỗi, nhầm lẫn, sợ hãi, căm ghét, kiêu căng, tuyệt vọng và giả dối (shame, guilt, confusion, fear, hatred, pride, hopelessness, and falsehood). Những điều tăng cường sự sống cần được hiểu rõ là chân lý, can đảm, chấp nhận, lý trí

, tình yêu, vẻ đẹp, niềm vui

và an bình (truth, courage, acceptance, reason, love, beauty, joy, and peace).

Việc khám phá ra sự khác biệt giữa “năng lượng” và “sự ảnh hưởng” ảnh hưởng

trên nhiều lĩnh vực cố gắng của con người như kinh doanh, quảng cáo, giáo dục, tâm

lý, y khoa, luật và các mối quan hệ quốc tế.

≈∙đã lược bỏ∙≈

Năng lượng và sự ảnh hưởng tạo nên một sự phân chia tân thời đầu tiên của các mức độ cao nhất của ý thức con người (tự nhận thức, trống rỗng, hư vô và trọn vẹn, đầy giác ngộ) (Self-Realization, the Void, Nothingness vs. Allness, Full Enlightenment) và các hiện tượng đặc biệt của chúng.

Tiến sĩ Hawkin mô tả các giai đoạn của sự giác ngộ với một mức độ rõ ràng, chỉ ra sự nhận thức dựa trên kinh nghiệm của chúng. Cuối cùng, chúng ta không thể vẽ ra một bản đồ về nơi mà chúng ta chưa từng đến. Có sự hiện diện của một trạng thái ý thức rất tiến bộ, với tất cả các đặc tính cổ điển: nhận thức nguyên sơ của thực tại tối hậu, lòng trắc

ẩn cho vạn vật, sự cống hiến không mệt mỏi để giảm bớt sự khổ đau, sự chính xác và tao nhã trong mỗi từ và mỗi chuyển động, sự tự do của sinh vật, tự nhiên, niềm vui lan tỏa, hài 26

hước, sự duy nhất với tất cả sự tồn tại, và sự sâu sắc của việc thuận theo đối với “thực tại”

(Reality), điều mà người bình thường không thể tưởng tượng ra được.

≈∙đã lược bỏ∙≈

The gift of this work to human evolvement is beyond what can be said about it.

Món quà cho công việc này đối với sự tiến hóa của con người là vượt qua cái có thể

được nói đến.

Không có bản đồ trong tay, chúng ta không tìm thấy được kho báu. Con đường này

mở ra cho tất cả những ai lựa chon nó. Tất cả chúng ta đều có những xuất phát điểm khác nhau, những tất cả chúng ta đều điều khiển bánh lái tương lai của chúng ta bằng chính đôi tay của mình. “Hãy tử tế và tha thứ cho mọi chuyện và mọi người, bao gồm cả bản thân, trong mọi lúc mà không có ngoại lệ nào cả. - Be kind and forgiving to everything and everyone, including yourself, at all times without exception.”

“Nhất thể thành tâm - Devotional Nonduality 20” là phản ứng, sự hòa hợp những thứ

mà trước đây chúng ta xem nó như những mặt đối nghịch: trái tim và tâm trí

, trong chuyến

hành trình khám phá bản thân. Những lời giảng về Nhất thể thành tâm nhấn mạnh những chân lý cốt lõi của những truyền thống mang tính tinh thần vĩ đại trên thế giới: sự tử tế và

lòng trắc ẩn đối với người và vật (bao gồm bản thân), khiêm tốn, vị tha, bình dị, yêu thương

(humility, forgiveness, simplicity, lovingness) như cách thức để tồn tại, lòng tôn kính đối với tất cả những gì

thuộc về sự sống, chân thành đối với chân lý và sự thuận theo đối với

Chúa trời. Đó là con đường trực tiếp để giác ngộ, trong đó mỗi sự phát triển bên trong của tình yeu và sự toàn vẹn thúc đẩy toàn bộ sự sống: “Chúng ta thay đổi thế giới không phải bằng những thứ chúng ta nói hay làm mà là bằng kết quả của cái chúng ta trở thành. - We change the world not by what we say or do but as a consequence of what we have become.”

– Yếu chỉ của Thiền tông –

“Giáo ngoại biệt truyền

Bất lập văn tự

Trực chỉ nhân tâm

20 Nonduality tiếng Sanskrit gọi là “Advaita”, tiếng Việt là “Bất nhị” hay “vô nhị” hay còn gọi là “nhất thể”

(oneness) là “không phân biệt đối với tất cả mọi hiện tượng”, là tâm thức của một người hợp nhất với môi trường xung quanh.

27

Kiến tính thành Phật”

~*~

Truyền giáo pháp ngoài kinh điển

Không lập văn tự

Chỉ thẳng tâm người

Thấy chân tính thành Phật

Văn tự kinh điển là Giáo tích chưa phải Giáo thể. Giáo tích là dấu chân của giáo pháp, Giáo thể là nguyên hình của giáo pháp. Ví

như người tìm voi thấy được dấu chân

voi, tuy biết được hướng đi của nó, song chưa thấy nguyên hình của nó. Nếu người tìm voi

chỉ biết nghiên cứu dấu chân voi rồi hài lòng thỏa mãn nơi đó, thì

ngàn đời cũng không

thấy được con voi. Đây là bệnh của học giả thời đại xưa kia và hiện nay. Vì thế câu “chẳng

lập văn tự, truyền ngoài giáo lý” mang sẵn tính chất trị bệnh và đầy đủ tinh thần chỉ bày

sự thật. Thiền tông cốt chỉ cho chúng ta thấy đạo qua mọi phương tiện, đừng mắc kẹt phương tiện mà quên đạo.

“Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Đạo không phải cái gì xa xôi huyền diệu, chính là Tâm thể của chúng sanh. Nếu người nhận ra Tâm chân thật của chính mình,

sự tu hành không sớm thì

chầy cũng sẽ thành Phật. Tâm chân thật này cũng gọi là Tánh

giác hay Phật tánh. Thấy được Tánh giác thì

thành Phật không nghi, vì

đã biết Phật nhân

nhất định sẽ đến Phật quả. Chỉ cho người nhận được Bản tâm mình là chủ đích của Thiền

tông.

Lục tổ Huệ Năng cũng bộc lộ cái nhìn về thiền qua bài kệ:

“Bồ đề bản vô thụ - Bồ đề vốn chẳng phải cây.

Minh kính diệc phi đài - Gương sáng cũng chẳng phải đài

Bản lai vô nhất vật - Xưa nay vốn không một vật,

Hà xứ hữu trần ai” - Nơi nào dính bụi trần?

~*~

“Xưa nay không một vật” là ý chỉ đầu tiên của Huệ Năng. Qua ý chỉ này Thiền của Huệ Năng trở nên có cương lĩnh, độc đáo, đối nghịch hẳn với cơ bản loại Thiền định kiểu

“quét sạch bụi trần”. Nếu tâm vốn thường thanh tịnh, không cấu nhiễm thì tại sao nó cần phải được phủi bụi, mà bụi ấy vốn không có chỗ nào để dấy khởi? Phải chăng việc “quét bụi” này cũng giống như việc “canh chừng tâm ý”, là một tiến trình không được bảo chứng

của các hành giả Thiền? Việc quét bụi quả thực là một sự sắp xếp hoàn toàn không cần 28

thiết. Nếu như toàn thể pháp giới này lưu xuất từ tâm, tại sao không để nó sinh khởi theo ý muốn? Cố gắng ngăn chặn sự sinh khởi ấy bằng cách “canh chừng tâm ý” – có phải điều này đang quấy rầy tâm chăng? Điều hợp lý và tự nhiên nhất đối với tâm là hãy trả về cho nó hoạt dụng sáng tạo và chiếu soi.

≈∙đã lược bỏ∙≈

“Khám phá ra thứ làm giảm bớt sự khổ đau – trách nhiệm của một người là chia sẻ nó với những người khác để họ cũng được hưởng lợi. - To discover something that relieves suffering — it’s one’s responsibility to share it with others so that they are benefited.” Alexander Fleming21.

≈∙đã lược bỏ∙≈

Thông tin và mạch văn tổng thể của cuốn sách này chứa đựng năng lượng để

chẩn đoán và giải quyết tất cả các sự tắc nghẽn và đau khổ bên trong. Nó hoạt động như mốt enzyme tạo thuận lợi mang tính tinh thần để giảm bớt sự đau khổ. Khi tiếp xúc, nó kích thích các cơ chế bẩm sinh của sự tự chữa lành, tự nhận thức và sự phát triển bên trong đối với tâm lý con người.

≈∙đã lược bỏ∙≈

Chúng ta sống trong một thế giới bị đánh dấu bởi sự đau đớn vật chất, tinh thần và cảm xúc. Cái chúng ta có thể học về những nguồn lực chưa được khai thác bên trong bản thân là gì

Chính xác thì

cái gì

là ảnh hưởng của một con người hay một nhóm người tỏa

ra sự yêu thương, sự chấp nhận và lòng trắc ẩn? Thật sự là ý thức của chúng ta có thể nắm giữ năng lượng để thúc đẩy không chỉ chính chúng ta mà còn cả thế giới? Cuốn sách này

nói “đúng thế - yes”.

Tiến sĩ đưa cho chúng ta cơ hội để đạt tới sự giải thoát (liberation) bằng cách chỉ ra con đường. Bằng việc tái cơ cấu chân lý mang tính tinh thần cao vào một khuôn

21 Một bác sĩ, nhà sinh học và đồng thời là một nhà dược lý học người Scotland, ông đã tìm ra và phân tách được penicilin – được coi là loại kháng sinh đầu tiên trong việc điều trị những bệnh nhiễm trùng.

29

khổ nói lên những suy nghĩ tuyến tính và logic, ông ấy xóa đi rào cản hơn nhất của

người đó để mở rộng ý thức: sự nghi ngờ mang tính trí tuệ (intellectual doubt).

Như bất kỳ bậc phụ huynh đều biết để giải thích những vấn đề người lớn cho trẻ em hiểu được luôn cần dùng đến tình yêu. Đó là luôn là khó khăn của bậc hiền triết: làm thế

nào để truyền đạt những thực tế phi tuyến tính nằm ngoài tầm với của tâm trí bằng cách mà tâm trí

ấy có thể hiểu được.

≈∙đã lược bỏ∙≈

Hawkin làm được điều đó. Ông ấy nói: “Chân lý về cái tôi của một người có thể

được khám phá ra trong cuộc sống hàng ngày. Sống với sự chăm sóc và lòng tử tế là tất cả những gì

chúng ta cần. Phần còn lại sẽ hé lộ chính nó vào đúng thời điểm. Những việc tầm thường và chúa trời không có gì

khác nhau cả. - The truth of one’s Self can be

discovered in everyday life. To live with care and kindness is all that is necessary. The rest reveals itself in due time. The commonplace and God are not distinct.”

Ông khẳng định vẻ đẹp của cuộc sống hàng ngày và sự thiêng liêng của mỗi sự

tương tác: “Tình yêu của chúng ta dành cho nhau không khác gì so với tình yêu chúng ta dành cho chúa trời. – Our love for each other is not different than our love for God.”

Thực tế cốt lõi là: hiểu được bản chất của mọi thứ chính là thấu tỏ Chúa trời.

The radical Reality is: to understand the essence of anything is to know God.

Fran Grace, Ph. D. , người chỉnh sửa

Giáo sư Nghiên cứu Tôn giáo và Quản trị viên Phòng Thiền

Trường đại học Redlands, California

Giám đốc sáng lập, Viện chiêm niệm cuộc sống Sedona, Arizona

December 2011

30

NEW PREFACE – LỜI NÓI ĐẦU MỚI

≈∙đã lược bỏ∙≈

Cuốn sách truyền đi hi vọng. Nó mô tả một cách chắc chắn chứ không phải sự phỏng đoán. Nó giới thiệu sự khả thi của sự tự thấu hiểu bản thân.

The book transmits hope. It defines certainty in contrast to guesswork. It introduces the possibility of self-verification.

≈∙đã lược bỏ∙≈

Người ta có thể tìm ra câu trả lời cho một vấn đề chỉ trong vài giây. Do đó, phương pháp được mô tả trong cuốn sách này rất thực dụng.

One could find out the answer in a matter of seconds. So the method described in this book is highly pragmatic.

Thế giới quan tâm đến những thứ nghe có vẻ tốt, nhưng trong thực tế có thể là bất hạnh. Quan trong là nhận biết bản chất của nó từ vẻ bề ngoài. Những thứ xuất hiện thật hấp dẫn nhưng cuối cùng rồi lại vỡ tan thành nhiều mảnh. Những thứ xuất hiện một cách trần tục lại trở thành thực thể truyền sức mạnh phí

a sau cho sự cố gắng.

The world is interested in what sounds good which, in practice, can be disastrous.

It is important to differentiate essence from appearance. Things that appear attractive end up falling apart. Things that appear mundane prove to be the supportive reality behind the effort.

Vinh quang thiên chúa trên các tầng trời!

David R. Hawkins, M. D. , Ph. D.

Viện trưởng Viện nghiên cứu tinh thần

Sedona, Arizona

December 2011

31

INTRODUCTION – GIỚI THIỆU

Tất cả sự nỗ lực của con người đều có điểm chung, mục tiêu không nói ra của sự

hiểu biết hoặc sự ảnh hưởng đến kinh nghiệm của con người. Với mục đích này, người ta đã phát triển ra nhiều môn học về mô tả và phân tích như: đạo đức, triết học, tâm lý học và v. v…. Một số lượng đáng kinh ngạc về thời gian và tiền bạc đã được được đầu tư vào việc thu thập và phân tích dữ liệu trong nỗ lực dự đoán xu hướng của con người. Tiềm ẩn trong

việc nghiên cứu điên cuồng này là sự mong đời tìm ra được “ câu trả lời” sau cùng. “ Câu trả lời”, chúng ta dường như cứ nhắc lại đi nhắc lại mãi để tin tưởng, rằng sẽ, một khi tìm

thấy, cho phép chúng ta giải quyết những vấn đề về kinh tế, tội phạm, y tế quốc gia hoặc chính trị. Nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa giải quyết được điều gì

.

Không phải chúng ta thiếu dữ liệu - chúng ta hầu như chìm ngập trong dữ liệu.

Sự trở ngại là chúng ta không có những công cụ thích hợp để làm sáng tỏ ý nghĩa của

những dữ liệu mà chúng ta có. Chúng ta vẫn chưa đặt ra được những câu hỏi đúng bởi chúng ta không có một thang đo đầy đủ về sự liên quan hay tính chính xác từ

những câu hỏi của chúng ta.

Thế tiến thoái lưỡng nan (song đề) của con người– bây giờ và luôn luôn – đã được người ta nhận diện nhầm như hiện vật trí tuệ của chính mình trên thực tế. Nhưng những giả thuyết giả mạo này chỉ đơn thuần là những sản phẩm của một sự nhận thức tuỳ tiện.

Những câu trả lời không thoả đáng mà chúng ta nhận được là hậu quả trực tiếp của những hạn chế tiềm ẩn trong quan điểm của người hỏi. Những sai sót nhỏ trong việc hình thành những câu hỏi gây ra những lỗi gộp trong những câu trả lời tiếp theo.

Sự hiểu biết không đơn thuần xuất phát từ việc kiểm tra dữ liệu, nó đến từ việc kiểm tra dữ liệu trong một bối cảnh cụ thể. Dữ liệu vô dụng cho đến khi chúng ta biết nó có ý nghĩa gì. Để hiểu ý nghĩa của nó, chúng ta không chỉ cần đặt ra đúng câu hỏi mà chúng ta còn cần những công cụ phù hợp để đo lường dữ liệu trong một quá trình

phân loại và mô tả có ý nghĩa.

Hầu hết các hành vi của con người vẫn không thể giải đoán được bất chấp mọi cố

gắng để thấu hiểu nó sâu sắc. Các hệ thống mà chúng ta đã tạo ra để đạt được sự thấu hiểu có thể có vẻ như bao quát và ấn tượng. Nhưng lần lượt lại dẫn chúng ta đến một ngõ cụt bởi vì

những hạn chế vốn có trong thiết kế ban đầu. Ngay khi chúng ta khám phá ra bản chất của các vấn đề của con người, nó trở nên rõ ràng rằng không bao giờ có 32

một thước đo thực nghiệm đáng tin cậy để đo lường và giải thích những động cơ và kinh

nghiệm của con người qua quá trình lịch sử.

Triết học trong tất cả các nhánh của nó cố gắng để hiểu kinh nghiệm của con người bằng cách tạo ra những khái niệm trừu tượng và thế chấp sự phù hợp của chúng với một vài tính xác thực sau cùng/cơ bản. Những hệ thống chính trị đều tất thảy dựa trên những

giả định về giá trị tương đối của con người không có đủ bất kì cơ sở thực tế nào chứng mình được. Tất cả các hệ thống đạo đức chuyển thành những nỗ lực tuỳ ý để giảm đi sự

phức tạp cực kì

lớn của hành vi con người thành những loại thông dụng của đúng và sai.

Phân tích tâm lý con người, trong việc phơi bày sự vô thức, đã phức tạp tình trạng rối ren này, dấy lên một chuỗi hoang mang về những phương pháp điều trị và những khái luận về

tâm lý được suy ra từ những quan điểm khác nhau. Sự nhảm nhí liên tục này trong nỗ lực của con người để hiểu chính mình cuối cùng cũng tạo ra một bãi lầy ngữ nghĩa trong đó,

cuối cùng, bất cứ điều gì người ta có thể nói thì

có lẽ đúng ở một mức độ nào đấy. Bởi vì

sự không chắc chắn về bản chất chính xác của quan hệ nhân quả, ngay cả khi thu

được kết quả đo lường, chúng có thể là đối tượng được gán cho những nguyên do giả

tạo.

Những lỗi không tránh khỏi của tất cả các hệ tư tưởng đã có, chủ yếu là: (1) không phân biệt giữa chủ quan và khách quan; (2) bất chấp sự hạn chế về bối cảnh vốn có trong thiết kế và thuật ngữ cơ bản; (3) sự thiếu hiểu biết về ý thức của bản thân; (4) hiểu lầm về

bản chất của quan hệ nhân quả. Hậu quả của những thiếu sót này sẽ trở nên rõ ràng ngay khi chúng ta khám phá ra những phạm vi chính của kinh nghiệm của con người từ một góc

độ mới, với những công cụ mới.

Xã hội không ngừng dùng những nỗ lực của nó để sửa chữa những kết quả, thay vì những nguyên do, đó là lý do tại sao sự tiến hoá ý thức của con người tiến hành rất chậm.

Nhân loại chỉ thực sự vừa mới bước lên nấc thang đầu tiên; chúng ta vẫn chưa giải quyết được ngay cả những vấn đề nguyên thuỷ như nạn đói trên thế giới. Các thành tựu của nhân loại, trên thực tế, cho đến nay có nhiều ấn tượng về việc đạt được – hầu như mù quáng –

thông qua sự thử nghiệm và mắc sai lầm. Trong khi tìm kiếm những giải pháp một cách

ngẫu nhiên đã dẫn đến một mê cung phức tạp khó hiểu, những câu trả lời đúng thì luôn có những dấu hiệu của sự đơn giản. Về cơ bản quy luật của vũ trụ là nền kinh tế. Vũ trụ không lãng phí

một hạt cơ bản nào; tất cả đều phục vụ cho một mục đích và phù hợp thành một sự cân bằng – không có những trường hợp không liên quan (ngoại lai).

33

Con người bị mắc kẹt với sự thiếu hiểu biết về chính bản thân mình cho đến khi có thể học cách nhìn xa hơn những nguyên nhân bên ngoài. Từ ghi chép của con người, chúng ta có thể nhận thấy rằng những câu trả lời không bao giờ phát sinh từ việc xác định cái gọi là “ những nguyên nhân” trên thế giới. Thay vào đó, xác định các điều kiện làm nền tảng cho những nguyên nhân bên ngoài mới là việc cần thiết; và những điều kiện này chỉ tồn tại trong chính ý thức của con người. Không có câu trả lời cuối cùng để

bất kì

vấn đề nào có thể được tìm thấy bằng cách tách biệt chuỗi các sự kiện và chiếu lên

chúng một khái niệm tinh thần của “ quan hệ nhân quả”. Không có những nguyên nhân thực tế nào trong thế giới quan sát được. Như cách chúng ta sẽ chứng minh, thế giới quan sát được là một thế giới của những tác động.

Sự tiên lượng (prognosis) đối với loài người là gì

Là xã hội bằng đức hạnh (virtue)

của chính nó, sở hữu những hệ thống nhỏ hỗn loạn, sự trốn chạy khỏi ý niệm hy sinh mù quáng (juggernaut), vốn đã cam chịu/ chấp nhận điều này? Triển vọng này làm nền tảng cho một sự lo sợ xã hội nói chung về tương lai. Các cuộc thăm dò quốc tế chỉ ra mức độ

cao của sự bất hạnh ở khắp mọi nơi trên thế giới, thậm chí

ở những quốc gia tiên tiến nhất.

Trong khi đa số người dân để cho một cái nhìn bi quan dẫn lối chính mình và cầu nguyện cho một cuộc sống tốt đẹp hơn ở “kiếp sau”, số ít những người nhìn xa hơn thấy trước được

một tương lai không tưởng không thể mô tả những cách thức (phương tiện) cần thiết để

mang nó xảy ra. Xã hội cần những người nhìn xa trông rộng các cách thức (phương tiện),

không phải những người mộng mơ về các mục đích. Một khi chúng ta có những cách thức, các mục đích sẽ tự bộc lộ mình.

Khó khăn trong việc tìm kiếm những cách thức hiệu quả để giảm thiểu chính nó, nhờ vào kiểm tra, với sự bất lực của chúng ta trong việc phân biệt điều cần thiết với không cần thiết. Cho đến giờ, chưa có hệ thống nào cung cấp một phương pháp mà theo đó để

phân biệt mạnh mẽ và những giải pháp hiệu quả từ những cái không hiệu quả và yếu kém.

Bản thân những cách thức đánh giá của chúng ta đã vốn không có khả năng thực hiện đánh giá thực tiễn.

Sự lựa chọn của xã hội, luôn luôn, là kết quả của phương tiện, sai lầm thống kê, cảm tính, áp lực từ truyền thông hay chính trị, hay thành kiến cá nhân và quyền lợi. Các quyết

định quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống của con người trên hành tinh được đưa ra dưới những điều kiện đó hầu như bảo đảm thất bại. Bởi vì

xã hội thiếu cơ sở thực tế cần thiết

cho việc bày tỏ những cách giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, họ rút lui, hết lần này 34

đến lần khác, dựa vào một phương pháp để gây sự ảnh hưởng (force) (bằng những biểu hiện khác nhau – chẳng hạn như chiến tranh, luật pháp, thuế, những quy tắc và quy định), cái mà cực kì tốn kém, thay vì sử dụng năng lượng (power), cái rất kinh tế.

Đạo Trời bớt chỗ dư bù chỗ thiếu. Mặt khác Đạo theo Lão tử là một nguyên lý quân bình, cho nên không cho cái gì

thái quá hay bất cập. Vì

vậy, người ta thường muốn làm

cho đời trị mà thành ra làm cho đời loạn, càng muốn trị bao nhiêu thì

lại càng loạn bấy

nhiêu. Do đó, đừng có ham can thiệp vào việc đời và nếu cần làm thì

hãy làm cái không

làm “vi vô vi”, một cách kín đáo và khéo léo. Vô Vi, không phải là không làm gì

cả, mà

nghĩa là không làm mà không có gì là không làm, làm một cách hết sức tự nhiên và kín đáo, đem cái tự nhiên mà giúp một cách tự nhiên, không tư tâm, không vị kỷ. Người thi ân không biết là thi ân, người thọ ân không dè là thọ ân. Bậc thánh nhân trị nước nước dùng đến đạo vô vi, dân không hay là mình bị trị. – Đạo đức kinh – Lão tử

Con người có hai loại năng lực làm việc cơ bản, lý do và cảm giác, và cả hai vốn đều không đáng tin cậy, như lịch sử của chúng ta về đời sống riêng tư cá nhân và khả

năng sống tập thể là minh chứng. Dù chúng ta gán lý do cho hành động của mình, con người trong thực tế hoạt động chủ yếu thoát ra khỏi nhận dạng mẫu; sự sắp xếp hợp dữ

liệu hợp lý phục vụ chủ yếu là để tăng cường một hệ thống nhận dạng mẫu, mà sau đó trở thành cái gọi là “chân lý”. Nhưng không bao giờ có cái gì là “chân lý”, ngoại trừ trong những trường hợp nhất định, và sau đó chỉ từ một quan điểm cá nhân, không được nhắc đến một cách đặc trưng.

Kết quả là, con người thận trọng suy luận rằng tất cả các vấn đề của mình đều phát sinh từ khó khăn của “sự hiểu biết”. Cuối cùng, tinh thần đạt tới nhận thức luận, nhánh của triết học kiểm tra câu hỏi làm thế nào và ở mức độ nào con người thật sự biết bất cứ điều gì. Như thế những tháo luận triết học có vẻ dường như hoặc uyên bác hoặc không thích hợp, nhưng những câu hỏi họ đặt ra lại là cốt lõi của kinh nghiệm con người. Dù cho chúng ta bắt đầu một cuộc kiểm tra kiến thức con người như thế nào, chúng ta luôn kết thúc bằng việc nhìn vào hiện tượng của nhận thức và bản chất của ý thức con người. Và sau cùng chúng ta cùng đi tới một quan niệm: bất kì bước tiến nào xa hơn trong điều kiện của con người đòi hỏi một cơ sở kiểm chứng cho sự hiểu biết. Khi đó chúng ta mới có thể đặt niềm tin của mình .

Trở ngại chính cho sự phát triển của con người, sau đó, là thiếu kiến thức về chính

bản chất của ý thức. Nếu chúng ta nhìn vào bản thân mình tại những sự tiến bộ ngay

35

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 5

Đang tải bình luận...