phần mình, tôi vẽ ra bảng này để bạn xem. Bạn có thể vẽ một cái khác, chọn các tiêu chí khác, miễn sao dễ xem xét.
172 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Ngày Sự việc Nhân vật Đối tượng của vụ việc Nội dung 25/7/1997 Ký Hợp đồng tín dụng số 889 tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. - TRACO Lập theo giấy phép số 1279/ GP –UB do UBNDTP cấp. - Ngân hàng Ngoại thương Vay 1 tỷ đồng Thời hạn 3 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. 08/11/1997 - Chưa thanh toán xong nợ cũ, ký tiếp Hợp đồng số 1128 có bảo đảm trả nợ (như trên) Vay tiếp 1,5 tỷ Thời hạn cho vay là 6 tháng. Hợp đồng có người bảo lãnh. - Bảo lãnh Vợ chồng ông Trần Văn Năm, Thế chấp quyền sử dụng 270 m2 đất ở (có sổ đỏ) tại Khương Bình, Thanh Trì, Hà Nội, được định giá là 1 tỷ đồng (kèm theo biên bản định giá của công ty kiểm toán VACO). Kể từ ngày bên vay nhận được số tiền vay cho đến khi bên vay trả hết nợ (cả gốc lẫn lãi). Nếu đến hạn trả mà bên vay không trả đủ thì ngân hàng có quyền phát mãi số tài sản trên để thu hồi nợ. Vợ chồng ông Đoàn Minh Thế Thế chấp đất* 98 m2 (có sổ đỏ) và một ngôi nhà hai tầng với diện tích sàn xây dựng là 63,4 m2 , tại Khương Đình, Thanh Trì, Hà Nội, được định giá là 1 tỷ đồng (kèm theo biên bản định giá của công ty kiểm toán VACO). * Ta ghi ”đất” mà không ghi quyền sử dụng đất vì đây là lúc suy nghĩ. Nhìn thẳng vào vấn đề, không đi theo râu ria.
Thực hành tư duy pháp lý 173 Công chứng Hợp đồng tín dụng số 1128. Chủ nợ, con nơ, và hai người bảo lãnh đều có mặt và ký trước công chứng viên. 12/02/1999 Ông Ngọc giám đốc TRACO bị Tòa án Hà Nội xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN”.... Án hình sự sơ thẩm ngày 12/02/1999 của Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội). 12/4/2000 Bản án bị kháng cáo. Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao đã hủy án sơ thẩm. Nợ chưa trả Hiện là 3 tỷ đồng Vợ chồng ông Đoàn Minh Thế Ông Năm Từ chối trách nhiệm bảo lãnh. Đất đã thế chấp Vì cho rằng Hợp đồng tín dụng vô hiệu do người ký kết có hành vi lừa đảo. Lo lắng có bị mất không? (B4) Loại bỏ các chi tiết không liên quan/chưa cần đến (irrelevant) để tìm ra các sự kiện chính/quan trọng. Dựa vào CHKL ta loại bỏ những chi tiết không liên quan tới, hay không giúp trả lời CHKL là “đất có bị mất không?”. Bạn hỏi “Sự kiện hay chi tiết này có dính dáng gì đến việc đất có bị mất không”. Cái nào không thì bỏ đi ở bước này. (Tuy nhiên, ta có thể nêu chúng lại khi đưa ra CHPT). Làm như thế ta còn các chi tiết sau: - Công ty TRACO ký Hợp đồng với ngân hàng để vay tiền. - Ông Năm bảo lãnh vay bằng việc cho thế chấp đất. Vậy nếu đến hạn trả mà bên vay không trả đủ (cả gốc lẫn lãi) thì ngân hàng có quyền phát mãi số tài sản trên. - Hợp đồng được công chứng với sự có mặt của đại diện có đủ thẩm quyền của các bên. - Tổng số nợ đối với ngân hàng là 3 tỷ đồng, và chưa được trả.
174 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ - Ông Năm lo sợ đất có bị mất không? Dùng bảng đã đưa lên, ta gạch bỏ* các chi tiết không liên quan: Ngày Sự việc Nhân vật Đối tượng của vụ việc Nội dung 25/7/1997 Ký Hợp đồng tín dụng số 889 tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam. - TRACO Lập theo giấy phép số 1279/GP –UB do UBNDTP cấp. - Ngân hàng Ngoại thương Vay 1 tỷ đồng Thời hạn 3 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. 08/11/1997 - Chưa thanh toán xong nợ cũ, ký tiếp Hợp đồng số 1128 có bảo đảm trả nợ (như trên) Vay tiếp 1,5 tỷ Thời hạn cho vay là 6 tháng. Hợp đồng có người bảo lãnh. - Bảo lãnh Vợ chồng ông Trần Văn Năm Thế chấp quyền sử dụng 270 m2 đất ở (có sổ đỏ) tại Khương Bình, Thanh Trì, Hà Nội, được định giá là 1 tỷ đồng (kèm theo biên bản định giá của công ty kiểm toán VACO). Kể từ ngày bên vay nhận được số tiền vay cho đến khi bên vay trả hết nợ (cả gốc lẫn lãi). Nếu đến hạn trả mà bên vay không trả đủ thì ngân hàng có quyền phát mãi số tài sản trên để thu hồi nợ. Vợ chồng ông Đoàn Minh Thế Thế chấp đất 98 m2 (có sổ đỏ) và một ngôi nhà hai tầng với diện tích sàn xây dựng là 63,4 m2 , tại Khương Đình, Thanh Trì, Hà Nội, được định giá là 1 tỷ đồng (kèm theo biên bản định giá của công ty kiểm toán VACO).
Thực hành tư duy pháp lý 175 Công chứng Hợp đồng tín dụng số 1128. Chủ nợ, con nợ, và hai người bảo lãnh đều có mặt và ký trước công chứng viên. 12/02/1999 12/4/2000 Ông Ngọc giám đốc TRACO bị Tòa án Hà Nội xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN”.... Án hình sự sơ thẩm ngày 12/02/1999 của Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội). 12/4/2000 Bản án bị kháng cáo, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao đã hủy án sơ thẩm. Nợ chưa trả Hiện là 3 tỷ đồng Vợ chồng ông Đoàn Minh Thế Từ chối trách nhiệm bảo lãnh. Vì cho rằng Hợp đồng tín dụng vô hiệu do người ký kết có hành vi lừa đảo. Ông Năm Đất đã thế chấp Lo lắng có bị mất không? (B5) Khái quát hóa nội vụ Ta khái quát hóa để nhìn thấy nội vụ qua các chi tiết quan trọng nhất liên quan đến CHKL và dùng chân trụ là ông Năm. - TRACO ký Hợp đồng vay tiền. - Ông Năm bảo lãnh bằng đất. - Hợp đồng tín dụng được công chứng. - TRACO chưa trả nợ. Ngân hàng đòi bán đất. - Ông Năm lo có bị mất đất không? Bảng đã dùng ở trên còn lại như sau và chúng là các sự kiện quan trọng nằm trong vụ tranh chấp. * Những phần gạch bỏ được quy ước bằng màu ( ).
176 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Ngày Sự việc Nhân vật Đối tượng của vụ việc Nội dung 25/7/1997 Ký Hợp đồng tín dụng số 889 TRACO Ngân hàng Ngoại thương Vay 1 tỷ đồng 08/11/1997 Ký tiếp Hợp đồng số 1128 có bảo đảm trả nợ (như trên) Vay tiếp 1,5 tỷ Bảo lãnh Vợ chồng ông Trần Văn Năm Thế chấp quyền sử dụng 270 m2 đất ở (có sổ đỏ) Kể từ ngày bên vay nhận được số tiền vay cho đến khi bên vay trả hết nợ (cả gốc lẫn lãi). Nếu đến hạn trả mà bên vay không trả đủ thì ngân hàng có quyền phát mãi số tài sản trên để thu hồi nợ. Công chứng Hợp đồng tín dụng số 1128. Chủ nợ, con nợ, và hai người bảo lãnh đều có mặt và ký trước công chứng viên. Nợ chưa trả Hiện là 3 tỷ đồng Ông Năm Đất đã thế chấp Lo lắng có bị mất không? Từ các sự kiện nằm trong bước khái quát hóa, ta thấy các SKMC là: Ngày Sự việc Nhân vật Đối tượng của vụ việc Nội dung 25/7/1997 Ký Hợp đồng TRACO Ngân hàng Ngoại Thương Vay 1 tỷ đồng 08/11/1997 Ký Tiếp Hợp Đồng Có Bảo Đảm Trả Nợ (như trên) Vay tiếp 1,5 tỷ Bảo lãnh Vợ chồng ông Trần Văn Năm Thế chấp quyền sử dụng 270 m2 đất ở (có sổ đỏ). Kể từ ngày bên vay nhận được số tiền vay cho đến khi bên vay trả hết nợ (cả gốc lẫn lãi). Nếu đến hạn trả mà bên vay không trả đủ thì ngân hàng có quyền phát mãi số tài sản trên để thu hồi nợ.
Thực hành tư duy pháp lý 177 Công chứng Hợp đồng tín dụng số 1128. Chủ nợ, con nợ, và hai người bảo lãnh đều có mặt và ký trước công chứng viên. Nợ chưa trả Hiện là 3 tỷ đồng (B6) Đặt CHMC Nếu bạn nối kết các điểm ở Bước 5 theo logic và luật pháp thì bạn sẽ thấy những sự kiện mấu chốt sau: - TRACO đã vay tiền mà đến nay chưa trả được nợ, hiện là 3 tỷ. - Ông Năm đã bảo đảm trả nợ cho TRACO bằng cách thế chấp đất. - Hợp đồng vay có công chứng. Vậy CHMC là: Đã bảo đảm trả nợ, mà nợ chưa được trả, thì đất đã thế chấp có bị mất không? Tuy nhiên – như đã nêu nhiều lần – dù có dùng câu hỏi nào thì ta không đưa ra câu trả lời mà lại hỏi tiếp để vặn vẹo CHMC hầu củng cố hay phá bỏ nó. Các CHPT vặn vẹo CHMC trong nhiều khía cạnh, như ta... “quay dế” (dẫu là con gái bạn không chơi dế!). (B7) Nêu các CHPT 1,2,3.... Để đưa ra các CHPT bạn nghĩ đến các sự kiện nằm trong nội vụ, đến luật về vay nợ và bảo lãnh rồi đặt các câu hỏi theo một thứ tự hợp lý. Khi ấy các câu hỏi sẽ lần lượt như sau: 1. Hợp đồng thế chấp có còn hiệu lực không? Ta dựa vào kiến thức thực tế để hỏi. Có thể hỏi ông Năm để biết chi tiết. Tuy nhiên, ta sẽ không đưa ra giải đáp mà lại tiếp tục hỏi. Trong nội vụ có sự kiện này: “Hợp đồng tín dụng số 1128 được công chứng với sự có mặt của đại diện có đủ thẩm quyền của Ngân hàng Ngoại thương, Bùi Thanh Ngọc và tất cả những người bảo lãnh. Công chứng viên ghi rõ: “… sau khi đọc lại nguyên văn bản hợp đồng này, từng người một công nhận hiểu rõ nội dung của bản hợp đồng này và cùng ký tên vào bản hợp đồng này để làm bằng trước sự chứng kiến của tôi”. Tất cả những người bảo lãnh, đại diện của Ngân hàng Ngoại thương và TRACO đều ký tên”.
178 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Vậy ta sẽ hỏi ông Năm (vì nghi ngờ nên hỏi lại cho chắc): Việc bảo lãnh bằng thế chấp đất được ghi chung trong hợp đồng tín dụng hay trong một hợp đồng bảo lãnh riêng biệt? Hỏi như thế để biết “sự bảo lãnh” hay “hợp đồng bảo lãnh”. Sự bảo lãnh thì có ghi chung trong hợp đồng tín dụng, còn hợp đồng thì riêng rẽ. 2.Các bên liên can có lập và nhận bảo lãnh / thế chấp đúng theo luật không (Ta dựa vào luật). 3. Có bằng chứng trong hồ sơ không? (Ta dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệp). Như có thể thấy các CHPT chỉ giúp trả lời câu hỏi của CHMC là “hợp đồng thế chấp/sự bảo lãnh có giá trị không”. Ta đã vặn vẹo sự kiện nằm ẩn trong CHMC (hợp đồng thế chấp và giá trị của nó ) theo nhiều hướng. Bằng các câu trả lời, ta biết các bên đã ký hợp đồng thế chấp đúng luật vì có công chứng. Nếu vậy thì hợp đồng có giá trị (đây là sự củng cố CHMC). Còn nếu không, thì hợp đồng thế chấp không có giá trị (nó phá hủy CHMC). Bạn sẽ hỏi làm sao để đưa ra các CHPT liên tiếp. Thưa, dựa vào chi tiết hay sự kiện mà nó trả lời cho câu hỏi trước vừa nêu trước. Thí dụ câu hỏi 1 là “hợp đồng thế chấp có hiệu lực không?”. Ta biết rằng theo luật, một hợp đồng như thế phải làm ở công chứng. Từ đó ta có câu hỏi 2:” Hợp đồng ấy được công chứng không? Rồi “ở đâu?”. Ta tưởng tượng ra cảnh ký hợp đồng ở phòng công chứng; ít nhất phải có hai bên và công chứng. Ta hỏi tiếp câu 3: “Việc công chứng có làm đúng thủ tục không”. Cứ như thế bạn hỏi những câu khác cho đến khi thấy hợp đồng đã làm đúng theo luật về thế chấp và công chứng như luật đòi hỏi. Để có thể đặt được các câu hỏi liên tiếp như thế bạn phải có kiến thức chứ không thể chỉ... biết luật! Vậy nếu các câu trả lời cho các CHPT trên đều là “có” thì việc bảo lãnh có giá trị. Không ai – kể cả đối thủ của mình – phản bác được kết luận ấy. Trong một vụ tranh chấp, đối thủ bao giờ cũng có. Ở đây là ngân hàng; vì ông Năm muốn chống lại việc phát mãi đất của ông mà ngân hàng làm. Kết luận của ta là hợp đồng thế chấp còn có giá trị – TRACO chưa trả nợ – nên Ngân hàng có quyền bán tài sản thế chấp của ông Năm theo luật. Ông này đến nhờ ta “bảo vệ quyền lợi” nhưng... thua!
Thực hành tư duy pháp lý 179 Giai đoạn 2 Củng cố các lập luận bằng chứng cứ và điều luật Cốt lõi của vấn đề liên quan đến hợp đồng tín dụng và thế chấp đất có công chứng. Có thể thân chủ đã đưa cho bạn xem ngay từ đầu, hay bạn đã yêu cầu đưa cho bạn xem trong quá trình xem xét để tư duy. Bây giờ bạn chỉ cần có các bản này để giải thích cho khách hàng, chỉ rõ điều luật chi phối. Giai đoạn 3 Trả lời cho khách hàng Bạn sẽ nói với ông Năm (với một bộ mặt đưa đám một tí để ăn khách) đại ý là ông đã ký bảo lãnh cho món nợ của TRACO, việc bảo lãnh ký với ngân hàng hợp pháp và có giá trị. Ông sẽ mất khu đất đã đem ra bảo lãnh vì TRACO chưa trả hết nợ cho Ngân hàng Ngoại thương. Ông chỉ có thể thưa TRACO để lấy lại tiền đồng thời có thể thưa ông Ngọc để đòi bồi thường thiệt hại. Vì ông Năm có nêu lý lẽ của ông Thế là hợp đồng tín dụng 1128 bị vô hiệu vì ông Ngọc của TRACO bị tội hình sự; nên bạn sẽ phân tích cho ông ta thấy: i. Sự khác biệt giữa TRACO và ông Ngọc. Ông Ngọc nay bị bắt thì sẽ có một người nào đó lên thay. TRACO không hề bị bắt; nó vẫn hoạt động. Nếu nó trả nợ cho ngân hàng được thì nơi sau sẽ giải chấp và trả lại giấy cho ông. Nếu TRACO không trả nợ được hay bị phá sản thì đất thế chấp của ông sẽ bị mất vì khi bảo lãnh ông đã chấp nhận chia sẻ số phận với TRACO. Nếu TRACO bị phá sản thì ông được lấy lại nợ lúc tòa phân chia tài sản. Bạn thấy từ luật bảo lãnh nó lan sang đến luật vay nợ rồi luật phá sản; chưa kể các công việc phải làm để thực hiện các luật đó. Luật sư phải có nhiều kiến thức; có nhiều nên phải rành rọt! ii. Vào thời điểm ký hợp đồng số 1128 (năm 1997) ông Ngọc chưa phạm tội. Ông Thế bị sai lầm về thời gian. Như đã đề cập, khi trình bày cho khách (hay những người khác), bạn chỉ nói kết luận của mình và cơ sở hay lý lẽ đã dựa vào để đưa ra kết luận ấy. Thường bạn nêu CHKL, CHMC, rồi nêu phần khái quát hóa để giải thích
180 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ theo ngôn từ thông thường. Không nêu cách mình phân tích trong quá trình TDPL. Đến đây chúng ta cũng rút ra một nhận xét về phương pháp tư duy. Kết luận của vụ này là: đã thế chấp đất để bảo lãnh nợ – thủ tục hợp lệ – con nợ không trả thì mất đất. Đó là một quy định của luật pháp. Một nguyên lý mà con người đặt ra để làm tài sản nảy nở. Bây giờ ta thấy rút ra nó “dễ òm”. Nhưng khi bắt đầu với một nội vụ có nhiều chi tiết nếu không tư duy theo kiểu pháp lý thì chưa chắc đã tìm thấy cái dễ òm này! Vì dễ òm nên nó được nhiều người nhìn nhận, kể cả người bị thiệt; do đó câu hỏi pháp lý trong TDPL tạo ra một “cái chung nhất” được nhiều người nhìn nhận khiến cho tranh chấp được giải quyết. Vụ 10 Bắt bồi hoàn tiền đền xe bị mất (B1) Nghe kể lể vụ việc, nghĩ đến ngành luật điều chỉnh - Tháng 8/2010, Công ty A ký hợp đồng dịch vụ bảo vệ (HĐDVBV) với Công ty B để thuê canh gác cơ sở sản xuất kinh doanh của Công ty B tại quận 6, thời hạn hợp đồng đến tháng 8/2011. - Khoản 1.5 Điều 5 hợp đồng dự liệu khi có nhu cầu tăng hay giảm vị trí làm việc, thì hai bên sẽ thỏa thuận số vị trí bằng phụ lục hợp đồng. Giá dịch vụ 2,6 trđ/1NV/tháng x 3 NV. - Tháng 11/2010, Công ty A phân công anh Hoàng và Sơn làm bảo vệ tại cơ sở của Công ty B ở quận 6. - Tháng 7/2011, Công ty B lập thêm 1 bãi xe để giữ xe cho bên ngoài (bên thứ ba) ngay trong khuôn viên cơ sở sản xuất kinh doanh tại quận 6. Việc thành lập bãi xe này, Công ty B không thông báo cho Công ty A. Và Công ty B thuê riêng hai người bảo vệ của Công ty A. - Ngày 01/8/2011, hai bên ký lại HĐDVBV với các điều khoản như cũ. Chỉ thay đổi giá dịch vụ từ 2,6 tr/nv/tháng x 3 nv lên 2,7 tr/nv/tháng x 3 nv, vì lạm phát tăng. - Ngày 01/01/2013, hai bên ký tiếp hợp đồng thứ ba, y như hai bản trước. - Ngày 21/01/2013, anh Hoàng nhận ca trực tối từ 17: 00 đến 07:00 ngày
Thực hành tư duy pháp lý 181 hôm đó. Do bị cảm ho, có uống thuốc, nên ngủ quên, trước khi ngủ có khóa 2 khóa cẩn thận. Lúc 02:15 ngày 22/01/2013 trộm vào cắt 02 khóa, lấy đi 02 xe. Lúc 05:40 anh Hoàng báo công an phường và chủ của Công ty B giải quyết. - Sau khi vụ mất xe xảy ra, các bên họp nhau để giải quyết. Buổi đầu tiên, Công ty B gặp hai chủ mất xe, nói sẽ đến. Buổi họp thứ hai, Bên A nói là Bên B lập thêm bãi giữ xe mà không báo cho mình và Bên B đã thuê riêng hai người bảo vệ mà A cử đến. - Bên B nói là A phải đền vì theo nội dung hợp đồng Công ty A phải chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh tất cả các tài sản nằm trong mục tiêu bảo vệ. Kể cả các xe của khách đang gửi tại mục tiêu vì việc giữ xe của Công ty B là có giấy phép. Tiền đưa cho hai bảo vệ hằng tháng chỉ là tiền bồi dưỡng và cũng nói là không phải thông báo cho A vì đây là việc kinh doanh riêng của B. - Sau đó B đền cho hai chủ xe và đòi A bồi hoàn tiền đó vì đó là lỗi của nhân viên họ. A trả lời là không biết việc làm ăn riêng của B và của hai nhân viên. Việc này xảy ra từ trước khi ký lại hợp đồng sau cùng mà trong hợp đồng này B cũng không báo cho A. Vậy đó là lỗi của B và của nhân viên B thuê riêng. Sau hai tháng bàn bạc, hai bên không giải quyết được, nên họ chấm dứt hợp đồng và B thưa A ra tòa đòi bồi hoàn tiền đền và tiền lãi. (B2) Nêu CHKL Là luật sư của A, CHKL là: Công ty A có phải bồi hoàn tiền bồi thường cho hai chiếc xe bị mất trộm hay không? (B3) Phân tích nội vụ đã nghe/đọc Ngày Sự việc Đối tượng của vụ việc Nội dung 8/2010 Cty A ký hợp đồng dịch vụ bảo vệ với Cty B. Bảo vệ cơ sở sản xuất kinh doanh ở Q.6 Thời hạn 1 năm Giá dịch vụ 2,6 trđ/ nv/tháng x 3 nv. 11/2010 Công ty A cử 02 nhân viên bảo vệ xuống cơ sở Q.6 Bảo vệ tài sản, hàng hóa của B, xe của CBCNV cũng như xe khách.
182 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ 7/2011 B lập thêm một bãi giữ xe trong khuôn viên cơ sở sản xuất kinh doanh ở Q.6 Giữ xe dịch vụ cho bên ngoài B thuê riêng Sơn và Hoàng. Không thông báo cho A khi hai bên vẫn đang thực hiện HĐ. 01/8/11 Ký lại HĐDVBV (lần 2) Giá dịch vụ từ 2,6 trđ/nv/tháng x 3 nv lên 2,7 trđ/nv/tháng x 3 nv 9/2012 B điều chỉnh giá giữ xe với khách gửi xe Tăng tiền bồi dưỡng cho Sơn và Hoàng 01/01/13 Ký lại HĐDVBV (lần 3) Bảo vệ cơ sở sản xuất kinh doanh ở Q.6 Nội dung HĐ không thay đổi so với HĐ ngày 01/8/11. Bảo vệ tài sản, hàng hóa của B, xe của CBCNV cũng như xe khách. 22/01/13 Hai xe hơi tại bãi xe ở cơ sở sản xuất kinh doanh Q.6 bị mất, lúc 02:15 Hoàng đau, ho, uống thuốc, ngủ quên, bị trộm bẻ khóa, lấy xe (B4) Loại bỏ các chi tiết không liên quan/chưa cần đến (irrelevant) Ngày Sự việc Đối tượng của vụ việc Nội dung 8/2010 Cty B ký hợp đồng dịch vụ bảo vệ với Cty A Bảo vệ cơ sở sản xuất kinh doanh ở Q.6 Thời hạn 1 năm Giá dịch vụ 2,6 trđ/ NV/tháng x 3 nv. 11/2010 Công ty A cử 02 nhân viên bảo vệ xuống cơ sở ở Q.6 Bảo vệ tài sản, hàng hóa của B, xe của CBCNV cũng như xe khách. 7/2011 B lập thêm 1 bãi giữ xe trong khuôn viên cơ sở sản xuất kinh doanh ở Q.6 Giữ xe dịch vụ cho bên ngoài B thuê riêng Sơn và Hoàng. Không thông báo cho A khi hai bên vẫn đang thực hiện HĐ. 01/8/11 Ký lại HĐDVBV (lần 2) Giá dịch vụ từ 2,6 tr/nv/tháng x 3 nv lên 2,7 tr/nv/tháng x 3 nhân viên 9/2012 B điều chỉnh giá giữ xe với khách gửi xe Tăng tiền bồi dưỡng cho Sơn và Hoàng 01/01/13 Ký lại HĐDVBV (lần 3) Bảo vệ cơ sở sản xuất kinh doanh ở Q.6 Nội dung HĐ không thay đổi so với HĐ ngày 01/8/11. Bảo vệ tài sản, hàng hóa của B, xe của CBCNV cũng như xe khách.
Thực hành tư duy pháp lý 183 22/01/13 Hai xe tại bãi xe ở cơ sở sản xuất kinh doanh Q.6 bị mất lúc 02:15. Hoàng đau, ho, uống thuốc, ngủ quên, bị trộm bẻ khóa, lấy xe. (B5) Khái quát hóa nội vụ Có năm SKQT là: 1. B ký một hợp đồng thuê dịch vụ bảo vệ cơ sở kinh doanh với A. Người sau cử hai nhân viên xuống làm. 2. Trong khi hợp đồng đang có hiệu lực, B lập một bãi giữ xe ở cơ sở kinh doanh, thuê riêng hai nhân viên bảo vệ và không thông báo cho B các việc này. 3. Trong lần ký lại hợp đồng thứ ba, tình trạng vẫn thế. 4. Một hôm xe của khách gửi ở bãi giữ xe bị mất cắp. Bảo vệ nói mình bị ốm. 5. B đã đền xe cho khách, nay bắt A bồi hoàn tiền đền. Trong năm sự kiện trên, SKMC là sự kiện số 2. Cần phân biệt là hai bên thuê canh gác cơ sở kinh doanh; tùy nhu cầu công việc mà tăng thêm người bảo vệ. Trong cơ sỏ kinh doanh có nhiều thứ (xe cộ, người ra vào) phải trông; nhưng chúng không phải là đối tượng của hợp đồng. Vì nếu thế thì phải liệt kê ra bao nhiêu xe, bao nhiêu người. Gọi “cơ sở kinh doanh” là nói bao quát hơn. (B6) Đặt CHMC A có trách nhiệm gì đối với bãi đậu xe đặt tại cơ sở kinh doanh ở quận 6? Bãi giữ xe được lập thêm trong khi hợp đồng đang có hiệu lực không hề quy định; B thuê riêng hai nhân viên bảo vệ. Và họ không thông báo cho A cả hai việc này? Hỏi cách khác ta có: Trong hợp đồng dịch vụ “cơ sở kinh doanh” có bao gồm bãi giữ xe mở sau hay không? Trong hai câu trên thì câu đầu “triệt buộc” hơn câu sau. (B7) CHPT Trong hợp đồng dịch vụ lần 1 và lần 3 có điều nào qui định về bãi giữ xe và trách nhiệm của A đối với bãi đó?
184 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ MỞ RỘNG Bạn đã biết “cái cuốc, đất sét và đất cát”. Ở trên, ta đã có CHMC cho A, vậy với B thì CHMC là thế nào? Đó là “B có đòi A bồi hoàn tiền được không?” Khi CHKL như thế thì các sự kiện chọn lựa ở các B4 và 5 sẽ khác đi. Vì muốn bắt A phải bồi hoàn tiền, bạn phải lập luận rằng: i. B thuê A canh gác cơ sở kinh doanh ở quận 6. Nó rất rộng. Trong câu “cơ sở kinh doanh” của hợp đồng thì nó mặc nhiên bao gồm cả bãi giữ xe. A phải biết như thế vì diện tích của cơ sở kinh doanh. Và do vậy B không cần phải báo cho A. ii. Tiền trả cho hai bảo vệ chỉ là tiền bồi dưỡng cho họ. Lập luận như thế thì CHMC cho bên B sẽ là: Với diện tích rộng như đã thấy của cơ sở kinh doanh ở quận 6, tại sao từ ngữ “cơ sở kinh doanh” trong hợp đồng không mặc nhiên bao gồm luôn cả bãi giữ xe? Là luật sư thì cứ nêu lên; tòa nghe hay không là tùy. Bạn thấy dù nội dung CHMC có khác, nhưng cách TDPL của cả hai bên giống nhau. Những gì khác nhau là các sự kiện mỗi bên chọn lựa để có SKMC và đặt ra CHMC. Vụ này có thật đã xử sơ thẩm. Luật sư hai bên không nêu CHMC như ta đã làm mà họ lập luận như tóm tắt ở dưới đây. Lý lẽ của nguyên đơn và bị đơn trong vụ án Lập luận của nguyên đơn Lập luận của bị đơn 1. Vụ việc mất trộm xe của khách gửi ở bãi xe tại cơ sở sản xuất kinh doanh Q.6, ngày 22/01/2013 đã được hai nhân viên bảo vệ của Công ty A, Hoàng và Sơn thừa nhận lỗi của mình (thuộc ca trực anh Hoàng). 2. Theo HĐDVBV, Công ty A phải chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh tất cả các tài sản nằm trong Mục tiêu bảo vệ, kể cả các xe của khách đang gửi tại cơ sở kinh doanh, vì việc giữ xe của Công ty B có giấy phép. Do đó đề nghị Công ty A chịu hoàn toàn trách nhiệm và bồi thường ngay 02 chiếc xe bị mất trộm. 1. Hoàn toàn bất ngờ về việc Công ty B đã hợp tác làm ăn riêng với hai nhân viên bảo vệ của công ty mình. 2. Trong các lần ký và tái ký hợp đồng giữa hai bên và mới nhất là HĐ ngày 01/01/2013 phía Công ty A cũng không được Công ty B cho biết việc này, do đó trong nội dung hợp đồng không có nội dung này, nên khi rủi ro xảy ra thì không thể trút bỏ trách nhiệm cho Công ty A. Vụ việc mất trộm hoàn toàn thuộc trách nhiệm giữa Công ty B và cá nhân anh Hoàng, Sơn.
Thực hành tư duy pháp lý 185 3. Công ty B không có trách nhiệm phải thông báo về việc lập bãi và giữ xe cho khách bên ngoài cho Công ty A. Tòa bác đơn đòi bồi hoàn tiền của nguyên đơn không dựa trên những lập luận trên mà nói rằng theo hợp đồng thì khi xe mất hai bên phải lập biên bản; nhưng trong vụ này họ không làm biên bản kia. Qua vụ trên ta thấy: - Tính tương đối của TDPL. Ta dùng kích thước của cơ sở kinh doanh làm nền tảng cho lập luận (SKMC, CHMC). Hai bên tranh chấp không dùng nền tảng đó mà nêu tài sản được canh giữ và người bảo vệ. - Khi nêu như của hai bên, sự tranh chấp sẽ mở rộng vì họ có thế cãi nhau về các loại xe, những người ra vào, nhân viên bảo vệ…; trong khi hai bên ký hợp đồng là để bảo vệ cơ sở kinh doanh (cái chính), trong đó có người ra vào và xe cộ (cái phụ). Họ cãi nhau về cái phụ! - Không dùng TDPL thì cũng vẫn giải quyết được mọi vụ tranh chấp; nhưng vụ án có thể kéo dài với nhiều lý lẽ được nêu; người dùng lý này; kẻ nêu lý khác; không ai thuyết phục được ai. Câu phổ biến thường được nghe là “vụ án không có điểm dừng.” Mục 2: Cách TDPL trong một vụ hình sự Trong một vụ hình sự, các bước phải làm đơn giản hơn một chút vì không phải đi tìm sự kiện vì chúng đã có sẵn sau khi thu thập bằng chứng; hoặc có thể suy đoán ra. Hành vi phạm pháp (tức là sự kiện) đã có rồi nên mới bị khởi tố. Theo BLTTHS, bào chữa là việc người bảo vệ cùng với bị cáo đưa ra các chứng cứ, lý lẽ bác bỏ một phần hay toàn bộ sự cáo buộc của các cơ quan tiến hành tố tụng. Nói đơn giản hơn, có bốn yếu tố tạo nên tội phạm là: chủ thể, chủ quan, khách quan và khách thể1 ; luật sư bào chữa dùng chứng cớ để đánh đổ hay thay đổi một trong bốn yếu tố đó thì thân chủ thoát tội hay nhẹ tội. 1 Luật của ta chia ra bốn yếu tố; nhưng luật La Mã và luật của các nước khác chỉ có yếu tố: tinh thần, vật chất và luật định hay tội phạm.
186 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Các công việc của một vụ hình sự là: 1. Nhìn nội vụ một cách tổng quát, căn cứ khởi tố, hay truy tố, tùy theo thời điểm mình bắt đầu can dự. 2. Tìm trong nội vụ những sự kiện liên quan đến các yếu tố cấu thành tội phạm và chọn ra một, hai yếu tố để gỡ tội. 3. Phân tích yếu tố gỡ tội để tìm ra sự kiện mấu chốt, câu hỏi pháp lý để thách thức hay bác bỏ căn cứ khởi tố. Trong ba vụ 11, 12 và 13 dưới đây, vụ 11 nêu các bước của TDPL để bạn thấy là có CHMC thì sẽ có hướng để đi tìm chứng cứ và xác định tội phạm trong một vụ hình sự. Hai vụ sau, tôi ghi lại lời tường thuật của các luật sư đã biện hộ trong vụ án. Điều tôi muốn nhấn mạnh là trong hai vụ các vị ấy cũng đi tìm CHMC khi bào chữa. Vụ 11 Đuổi theo người vi phạm Ngày 17/9, Công an huyện Phú Giáo (Bình Dương) cho biết đang điều tra, làm rõ cái chết của em PHP (16 tuổi, ngụ xã Vĩnh Hòa) tại lô cao su tổ 3, ấp Trảng Sắn, xã Vĩnh Hòa, huyện Phú Giáo vào đêm 15/9. Khoảng 22g ngày 15/9, sau khi chơi game ở thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, PHP chở hai người bạn là L vàT (cùng 16 tuổi) trên xe máy không biển số, cả ba không đội mũ bảo hiểm. Khi đến địa phận xã Vĩnh Hòa thì một dân quân tự vệ đi xe máy vượt lên chặn xe lại. L vàT nhảy xuống xe, còn P tiếp tục lái xe bỏ chạy về hướng xã Vĩnh Hòa nên bị truy đuổi. ĐợiP lâu không thấy quay lại nên L vàT đi bộ về nhà ngủ. Đến hơn 23g, P được lực lượng dân phòng thị trấn Phước Vĩnh đưa vào Bệnh viện Đa khoa huyện Phú Giáo cấp cứu, nhưng các bác sĩ xác định em đã tử vong trước đó. Theo bác sĩ trực tiếp cấp cứu, P được đưa vào bệnh viện khi tim đã ngừng đập, trên người có nhiều vết bầm tím như mắt phải sưng bầm, ngực phải, cánh tay phải và sau lưng có các mảng bầm tím, trước 1/3 xương đùi bên phải có vết bầm dài chừng 22cm, rộng 2cm, 1/3 dưới xương đùi bên trái
Thực hành tư duy pháp lý 187 có vết trầy sướt dài 22cm, chảy máu mũi và đầu không có dấu hiệu chấn thương... Kết luận tử vong nghi do đa chấn thương. “Khi lập biên bản về việc bệnh nhân chết trước khi nhập viện, bệnh viện đề nghị phía người đưa nạn nhân vào cấp cứu là dân quân thị trấn Phước Vĩnh ký nhưng không ai chịu ký biên bản” – bác sĩ nói. Cũng theo nhận định của bác sĩ, nguyên nhân em P. tử vong có khả năng là do bị đánh chứ không thể do té xe. Chiều 17/9, ông nộiP, cho biết: “Cơ quan công an chưa về làm việc với gia đình nên gia đình đã có đơn kiến nghị gửi lên các cấp chính quyền để điều tra nguyên nhân cái chết oan uổng của cháuP. Nếu cháu tôi có bị tai nạn hay bị rượt đuổi, đánh đập thì cũng mong có một kết luận cụ thể cho gia đình biết”. Luật sư gặp bị can đang được tại ngoại thì được biết: Sau khi bị chốt dân quân (lúc đó có một công an chính quy và một dân phòng là bị can Q) chặn lại vì chở 3 không đội mũ bảo hiểm, xe không đèn, P ngừng xe cho hai người bạn nhảy xuống rồi chạy tiếp, dân phòng Q đuổi theo khoảng 3 km thìP quẹo vào lô cao su. Vì đường tối nên dân phòng Q không đuổi tiếp. Sau khi quay đầu xe ra thì nghe tiếng động lớn từ phía lô cao su, Q quay lại thì thấyP và xe tông vào cây cao su ngay khúc quanh, Q kêu hoài nhưng P vẫn nằm im, Q đỡP lên và gọi đồng đội đưa tới bệnh viện vàP đã chết. Sau khi bài báo đăng theo như nhận xét của bác sĩ thì Đảng ủy địa phương họp tổ dân phố, tổ nhân dân tự quản và gia đình P đính chính lời kết luận của bác sĩ làP tự đâm vào gốc cây cao su mà chết. Bây giờ bạn được mời làm luật sư cho bị can. Thường khi xem xong nội vụ, người ta có thể nêu các câu hỏi như: - Q có quyền truy đuổi không? - Bỏ sót tội phạm; phải quy trách nhiệm người điều động Q. - P bị đánh. Ở đây, ta nêu CHKL rồi CHMC. B1 – CHKL Q có phạm tội không? Q có thể bị buộc tội không?
188 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Cứ hỏi như thế mà không xác định tội danh, vì nếu câu trả lời sau này là không thì ta đã phí giờ đi tìm. B5 – Khái quát hóa nội vụ: - P vi phạm luật giao thông, bị chặn lại, nhưng bỏ chạy. - Q đuổi theo. - P chạy vào trong rừng. Q ngưng đuổi. - P bị tai nạn trong rừng, bị thương và chết. B6 – CHMC: P chết vì bị tai nạn hay vì bị đuổi theo? B7 – CHPT: - P bị thương như thế nào đến nỗi chết, theo kết quả pháp y? - Q có ngưng ở trên đường nhựa, không đuổi theoP nữa, khi thấyP chạy vào rừng, hay đuổi theoP vào rừng? - Nếu không đuổi theo vào rừng thì có bằng chứng không? Sao lại thấy xe củaP đâm vào gốc cây? Kết luận để nói với thân chủ: Gia đình P muốn thưa Q thì phải chứng minh P bị Q đuổi trong rừng. Kết quả pháp y quan trọng để xác định cái chết củaP (P té xuống hố, đâm vào gốc cây vì bị đuổi hay cứ chạy rồi bị như thế). Q muốn thoát tội phải chứng minh đã ngưng đuổi trên đường nhựa không đuổi theoP vào rừng. T phải chứng minh sự kiện này. Sự phân tích trên cho thấy, dựa trên CHMC và CHPT, luật sư của mỗi bên sẽ đặt ra mục đích khi xem xét hồ sơ. Trong vụ này, CHMC giúp ta hướng nghiên cứu hồ sơ và lập luận mỗi bên phải nêu để bênh thân chủ của mình. Nếu Q bị chứng minh là đã phạm tội thì việc nêu trách nhiệm của cấp chỉ huy của Q chỉ là việc phụ để xin giảm bớt tội cho Q, chứ không thể truy tố người ấy vìP phạm tội quả tang, việc đuổi theo là bắt buộc; giống như khi không bắt được tội phạm thì cơ quan điều tra có thể ra lệnh tầm nã.
Thực hành tư duy pháp lý 189 Vụ 12 Vụ án vườn điều Vụ này do luật sư Phạm Hồng Hải bào chữa và ông ghi lại trong quyển Vụ án vườn điều từ những góc nhìn do NXB Công an Nhân dân xuất bản tại Hà Nội năm 2008. Tôi trích bản án, vốn là thành quả của luật sư bào chữa. Bạn chú ý đến các sự kiện được nêu ra. Luật sư thắng vụ này nhờ sự kiện. “Tòa phúc thẩm TANDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy: 1. Vào ngày 21/5/1993, lúc khoảng 6 giờ sáng phát hiện một xác chết nữ, bị chém dã man nằm tại gốc điều thuộc vườn điều nhà ông Hai Hoàng ở thôn 2, thị xã Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Xác chết được người dân và thân nhân gia đình là chồng, con và con dâu xác nhận đó là bà Dương Thị Mỹ (sinh 1955) vợ ông Ba Kiếm (tức Bửu) ở thôn 2 Tân Minh. Bà Dương Thị Mỹ chết do bị chém, bị đập mà chết là có thật. Ai là thủ phạm giết bà Mỹ, cần phải điều tra thật khách quan, đầy đủ và phải trừng trị thích đáng mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Cơ quan Điều tra (CQĐT) tỉnh Bình Thuận đã khởi tố vụ án hình sự để điều tra là đúng pháp luật. Song quá trình điều tra lại gặp rất nhiều khó khăn, bế tắc. Vụ án được khởi tố từ năm 1993, sau đó phải tạm đình chỉ, đến năm 1998 (sau 5 năm) mới được phục hồi điều tra vụ án. 2. Đây là vụ án hình sự rất phức tạp, quá trình điều tra kéo dài, chứng cứ thu thập mâu thuẫn, lời khai lúc nhận tội của 2 bị cáo, lúc không nhận tội của tất cả các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều cho rằng bị bức cung, mớm cung hay dùng nhục hình mà phải khai nhận. Riêng lời khai nhận của hai bị cáo Nén và Lâm cũng rất mâu thuẫn nhau và không phù hợp với hiện trường, không phù hợp với thương tích trên thi thể nạn nhân và tang vật là con dao thu được do đào được. Qua nhiều lần điều tra, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm cho đến phúc thẩm lần này vẫn còn nhiều vấn đề cần phải điều tra xem xét lại từ đầu, việc bổ sung cấp phúc thẩm về chứng cứ không thể làm được nên Viện Kiểm sát xét xử cấp phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra lại. Ý kiến này được đại đa số các luật sư đồng tình. Riêng ý kiến của một số luật sư yêu cầu tuyên bố các bị cáo vô tội vì không có đủ chứng cứ buộc tội. Tòa phúc thẩm
190 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ xét thấy các bị cáo đều kêu oan không phạm tội, nhân chứng khai trước tòa còn mâu thuẫn với lời khai của mình trước CQĐT, còn những khả năng để giám định tang vật chưa được trưng cầu ở mức cao hơn, hoặc giám định thời gian nạn nhân bị giết, việc xác định chính xác nạn nhân Dương Thị Mỹ bằng phương pháp hiện đại (giám định gen ADN) để loại bỏ nghi vấn nạn nhân vì sao chết trong thời gian 64 tiếng đồng hồ mà lại bị biến dạng, dòi bọ rất nhiều, không còn khả năng nhận dạng. Hiện trường, tử thi nạn nhân, tang vật và ngoại phạm (alibi) của Nén chưa được xem xét toàn diện, khách quan. Do vậy, cần phải điều tra, xem xét lại các vấn đề sau đây: a. Bị cáo Nén được dẫn ra chụp hình chỉ vào con dao đào được dưới hố, rồi dẫn về. Không có chữ ký của bị cáo Nén vào biên bản xác định vị trí chỗ đào, biên bản thu giữ tang vật. Con dao được đào thấy và thu được đã bị bể làm nhiều mảnh nhỏ (hình ảnh màu), cần được giám định ở cấp cao hơn, xác định đúng con dao phay gây án chôn 5 năm – bên ngoài có bọc giấy xi măng. Giấy xi măng, con dao cán bằng gỗ có bị phân hủy hoàn toàn được không? b. Nạn nhân bị giết chết: Mặt đã bị biến dạng hoàn toàn, không còn khả năng nhận dạng, dòi bọ nhiều. Cần xác định chính xác có phải nạn nhân bị giết chính là bà Dương Thị Mỹ (sinh năm 1955) không? Bằng phương pháp khoa học tiên tiến, không thể chỉ căn cứ theo nhân thân, bà con thân thuộc, nhận dạng qua quần áo, dép, hình dạng người, trong khi mặt nạn nhân đã biến dạng, một bên tai không còn. Xác định trong vòng 64 tiếng đồng hồ kể từ lúc nạn nhân bị giết, đến lúc giám định thi thể nạn nhân có khả năng dòi bọ nhiều như vậy hay không? Nạn nhân bị chém, hàm bị bể, sọ não bị dập. Ngoài nghi vấn vật dùng để đánh là cây, có khi nào bị đánh bằng loại hung khí khác ví dụ như búa? Hay chỉ dứt khoát là bằng cây. Nạn nhân bị chém, bị đập tập trung vào đầu, bị thương ở tay… tại sao áo quần và trên thi thể không có máu? Kể cả áo lót, quần lót? Theo các nhân chứng khai tại phiên tòa đều xác định: Một lỗ tai của nạn nhân không còn. Lỗ tai còn lại vẫn còn mang một chiếc bông tai. Vậy tại sao khi khám nghiệm tử thi nạn nhân, điều này lại không được ghi vào biên bản. Lỗ tai đã bị mất: Có khả năng chiếc bông tai còn lại ở trên lỗ tai này hay không? (vì lời khai các bị cáo cho rằng đã lấy đi đôi bông tai) trong khi một chiếc bông tai còn lại trên lỗ tai của nạn nhân, còn một lỗ tai bị mất.
Thực hành tư duy pháp lý 191 c. Tại hiện trường có nhiều mẩu thuốc lá Everest, vì sao không được thu giữ. Có nhân chứng khai tại phiên tòa đây là loại thuốc lá mà anh Trần Văn Sáng hay hút với một thói quen cắn đầu thuốc. Vấn đề này vẫn chưa được làm sáng tỏ. d. Nhân chứng Trần Thị Kim Yến là người viết giùm lá thư hẹn hò giữa nạn nhân Dương Thị Mỹ với Trần Văn Sáng khai chưa rõ. Chưa xác định được thời gian chị Yến viết có phù hợp với thời gian chị Mỹ bị giết hay không? Và nội dung bức thư như thế nào? Theo như chị Yến khai tại phiên tòa thì thời gian viết thư xảy ra sau khi chị Mỹ đã bị giết chết. Như vậy là thiếu cơ sở, cần phải xem xét lại. e. Vấn đề ngoại phạm (alibi) của bị cáo Nén: Tại phiên tòa, nhân chứng khai có mâu thuẫn với lời khai trước đó tại CQĐT, xét xử cấp sơ thẩm. Mỗi nhân chứng khai một cách khác nhau, mâu thuẫn với nhau trong từng lời khai của nhân chứng. Điều này phải điều tra xác minh lại. Kể cả thời gian lao động, nghỉ ngơi, sinh hoạt và đi lại của bị cáo Nén trước, trong và sau khi phát hiện ra xác chết bà Dương Thị Mỹ tại vườn điều nhà ông Hai Hoàng cũng tồn tại những lời khai khác nhau. Ngoài những vấn đề nêu trên, các luật sư còn đưa ra nhiều vấn đề cần phải được điều tra lại, những giả thuyết được đặt ra chưa được xem xét toàn diện khách quan như: Tin tức về bà Dương Thị Mỹ bị giết được loan khắp Tân Minh, trong khi đó ông Bửu là chồng, cùng gia đình bên chồng chị Mỹ lại tỏ ra thờ ơ, không đoái hoài. Có dấu hiệu khác thường là một số người thân thuộc bên chồng chị Mỹ đang làm ăn phát đạt, ổn định, tự nhiên bỏ làng đi đâu không khai báo sau khi chị Mỹ bị giết chết. Bởi những lẽ nêu trên, nghĩ nên áp dụng khoản 1 điều 205 BLTTHS hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 122/HSST ngày 27/7/2004 đến ngày 06/8/2004 của Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Thuận để điều tra lại. Vụ án phức tạp, quá trình điều tra, truy tố xét xử nhiều lần, nhiều cấp nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần phải điều tra lại từ đầu. Các luật sư, bị cáo có những ý kiến cho rằng bị bức cung, mớm cung, nhục hình khi lấy lời khai của các bị cáo. Để khách quan, toàn diện hơn, nghĩ cần kiến nghị Bộ Công an trực tiếp thụ lý điều tra lại vụ án này. Bởi các lẽ trên, căn cứ điều 248, 250 BLTTHS…
192 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ 1. Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 122/HSST ngày 27/7/2004 đến ngày 06/8/2004 của Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Thuận vụ án Nguyễn Thị Lâm và đồng bọn phạm tội “Giết người”. Giao toàn bộ hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm để điều tra lại. 2. Kiến nghị Bộ Công an trực tiếp thụ lý, điều tra lại vụ án Nguyễn Thị Lâm và đồng bọn phạm tội “Giết người”.” Trong vụ này, những yếu tố cốt lõi để giải quyết vụ việc là: việc nhận định thời gian chết, nhận dạng nạn nhân và vật gây thương tích. Đặc biệt nhất là vật gây thương tích. Các luật sư đã triệt để khai thác những biến đổi của vật chất theo thời gian để bảo rằng cơ quan điều tra không chứng minh được hung khí. Về bằng chứng này, luật sư Phạm Hồng Hải viết trong quyển sách như sau và đây chắc là cơ sở cho các lập luận mà ông đã nêu tại tòa1 . Chúng ta đọc để biết về kiến thức của một luật sư phải như thế nào, lập luận ra sao, để “triệt để khai thác” như sự đề cập nêu trên của tờ báo điện tử. Nói cách khác, các luật sư “tấn công” vào yếu tố này để gây nghi ngờ về bằng chứng khiến tòa phải đưa ra bản án trên. “Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án Vườn điều thì một trong những hung khí dùng để tấn công nạn nhân là con dao thái thịt (theo quy kết của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Thuận thì chính bà Nguyễn Thị Lâm đã dùng con dao này tấn công nạn nhân gây đứt tay, đứt quai hàm của nạn nhân, gây mất máu dẫn đến cái chết của nạn nhân) và con dao đó đã được Huỳnh Văn Nén chôn giấu dưới lòng đất. Năm năm sau, khi CQĐT tiến hành khai quật và thu được thì nó chỉ xác định là một thanh kim loại có kiểu dáng con dao phay. Khi đưa mẫu vật này đi giám định thì ngày 31/12/1998 Phân viện khoa học hình sự – Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh có Kết luận số 1958/C21B kết luận: Mẫu vật do CQĐT Công an tỉnh Bình Thuận gửi tới là vật cứng dạng kim loại gỉ sét có chứa thành