Tôi đưa ra phương pháp giáo dục “vô cùng tàn nhẫn, vô cùng yêu thương”. Thực tế, một phần lớn lý do đến từ ảnh hưởng bởi người cha Do Thái của tôi, nhưng cha thực sự chỉ đi cùng tôi trong 12 năm cuộc đời…
Thân thế bí ẩn của hai cha con
Tôi là một người da trắng sinh ra ở Trung Quốc, có người cha mang dòng máu Do Thái.
Năm 1950, tức hai năm sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949) được thành lập, tôi chào đời tại căn nhà trên đường Đại Danh, quận Hồng Khẩu, thành phố Thượng Hải. Khi đó cha tôi đã 60 tuổi. Thuở nhỏ, ký ức đầy màu sắc đầu tiên chính là căn biệt thự hai tầng với khu vườn xinh đẹp của gia đình tôi – nằm ở giao điểm giữa đường Đại Danh và đường Nam Tầm, ngay gần cây cầu Ngoại Bạch Độ. Trong khu vườn ấy, bãi cỏ xanh phủ đầy hoa lá. Thời thơ ấu, tôi rất thích hái hoa bắt bướm trong vườn, thích đeo vòng hoa trên đầu, thấy mình xinh đẹp và mỹ miều chẳng khác gì một cô bé Hy Lạp thời xưa.
Khi đó, tôi hãy còn là một cô nhóc thơ ngây, không mảy may biết đến nỗi muộn phiền, xô bồ của thế gian, không biết đến những khác biệt về quốc tịch, chủng tộc và văn hóa. Tôi chỉ biết đến một cuộc đời trong sáng, hạnh phúc, được cha hết lòng yêu thương và dạy dỗ cẩn thận. Khi đó, tôi thường mặc quần áo lụa, tay áo thuôn dài. Tôi vẫn nhớ món đồ yêu thích nhất của mình là chiếc váy màu tím sẫm. Những chiếc áo khoác mùa đông cũng được cha nhờ người mua về từ Liên Xô. Khi tôi còn nhỏ, cha không cho tôi tham gia vào công việc kinh doanh, nhưng thường dẫn tôi đến một số buổi tiệc tối của các quan chức hoặc cơ quan đối ngoại. Nhờ tham gia những bữa tối sang trọng này, tôi dần có ý thức về cách ăn vận, đi đứng và cư xử sao cho phải phép. Tôi sẽ không bao giờ đi trước mặt cha; ngay cả khi được ông kéo tay đi, tôi vẫn sẽ bước chậm hơn nửa bước, đi ngay phía sau ông.
Suốt thời thơ ấu, tôi đã được lĩnh hội chủ nghĩa cộng sản cùng đám trẻ nhỏ hàng xóm, xem bộ phim Thời thơ ấu, đọc các tác phẩm cách mạng nổi tiếng, lắng nghe những câu chuyện anh hùng của Quân Giải phóng, học về tinh thần “Ngu Công dời núi”… Tất thảy đã gieo vào tâm trí nhỏ bé của tôi những hạt giống đỏ mang tên “thiếu niên tốt” của nước Trung Quốc mới. Tháng ngày ấu thơ trôi qua thật êm đềm, đầy ắp sức sống của một xã hội mới. Cha đã cho tôi một cuộc sống đơn giản, hạnh phúc trong một không gian sống thực sự yên ổn.
Mặc dù được sinh ra trong một khu Longtang1 của Thượng Hải, nhưng vì ngoại hình và hoàn cảnh gia đình nên ngay từ nhỏ tôi đã biết mình khác biệt với chúng bạn. Thân thế của tôi, đối với tôi mà nói, luôn là một bí ẩn! Bởi lẽ xuất thân của cha tôi, ông Livi Imas, vốn dĩ là một câu hỏi không lời giải đáp!
1. Loại hình kiến trúc nhà ở đặc trưng của Thượng Hải. (ND)
Cha không bao giờ kể cho tôi thẳng thắn, trọn vẹn và chi tiết về quá khứ của mình, nhưng tôi vẫn lờ mờ biết được rằng vào những năm 1930, cha đã bị Đức quốc xã bức hại. Sau sự kiện “Đêm thủy tinh2”, ông đã vượt qua biên giới Đức và Ba Lan, trốn thoát theo nẻo Siberia, rồi trôi dạt đến Thượng Hải, Trung Quốc. Sau khi tiếp nhận hàng chục ngàn người Do Thái, Thượng Hải thêm lần nữa tiếp nhận một số lượng lớn người tị nạn Do Thái không nhà cửa. Trong đám đông người tị nạn đang cư trú và bám víu vào con thuyền Noah mang tên Thượng Hải đó, có cả cha tôi. Từ năm 40 tuổi đến năm 72 tuổi, cha đã dành trọn 32 năm ở Trung Quốc.
2. Cuộc bạo động chống lại người Do Thái trên toàn Đức Quốc xã và Áo, diễn ra ngày 9 và 10 tháng 11 năm 1938. (ND)
May mắn thay, ông đã vận dụng sự kiên cường và trí tuệ Do Thái để gây dựng sự nghiệp và chẳng mấy chốc trở nên dư dả. Khi đó gia đình tôi rất giàu có. Mặc dù không được hưởng tình thương từ mẹ, nhưng nhờ cha, tôi đã có được cả một vùng trời riêng, một tuổi thơ vui vẻ, vô lo vô nghĩ.
Bức ảnh quý giá của hai cha con
Sở trường của cha là kinh doanh buôn bán. Tôi nhớ rằng cha đã mở một quán bar và một tiệm bánh tên là “Sullivan”, bán những loại bánh mì được làm thủ công rất thơm ngon. Cha cũng từng làm trong ngành hải quan. Ông có nhiều bạn bè người Trung Quốc làm việc trong ngành hải quan, nên ngay từ nhỏ, tôi đã quen với các chú các bác phi công và thường lấy kính viễn vọng của họ để nghịch ngợm chơi đùa. Khi cha mở cửa hàng tại bến tàu Hồng Khẩu nổi tiếng nhất Thượng Hải thời bấy giờ, có rất nhiều thuyền viên nước ngoài ghé đến. Họ gửi tặng cha đủ loại hàng hóa cao cấp từ khắp nơi trên thế giới. Tôi thấy có trà, rượu, đồng hồ Thụy Sĩ, thảm trải và thảm chuyên dụng cho quân đội, xì gà, v.v…
Cha là một doanh nhân hết sức nhạy bén và tài ba. Nhờ ngày ngày mắt thấy tai nghe, tôi đã quen với việc kinh doanh ngay từ khi còn nhỏ. Tôi từng được nhìn thấy loại máy ảnh tiên tiến nhất, những tấm thảm Ba Tư đẹp nhất… tôi vẫn còn nhớ sắc màu sặc sỡ và cảm giác tuyệt vời khi chạm vào chúng. Ngoài ra, phải kể đến những biệt ngữ trong ngành mua bán thảm như loại 360, loại 780, loại 12.000, để chỉ mật độ sợi của thảm – ngay từ bé tôi đã hiểu được điều này. Không chỉ được tận mắt thấy những tấm thảm thượng hạng, tôi còn được ngắm nhìn các bức tranh sơn dầu nổi tiếng, xì gà cao cấp, rượu vang hảo hạng và loại whisky ngon nhất. Tuy nhiên, thứ tôi ấn tượng nhất là cuốn sách màu xanh khổ lớn, bìa bọc da cừu, dùng để tuyên thệ mà cha thường gối đầu giường hoặc mang theo mỗi khi ra ngoài.
Sự dạy dỗ của cha đã cho tôi hiểu biết sâu sắc về ý nghĩa của cuộc sống. Có rất nhiều điểm tựa trong cuộc sống của chúng ta: hôn nhân, gia đình, công việc, sự nghiệp… Cá nhân tôi cho rằng, không có bất kỳ điểm tựa nào quan trọng hơn sinh mệnh. Thái độ kính sợ đối với sinh mệnh chính là điều mà bất cứ ai cũng phải hiểu, và sự kính sợ đối với cha mẹ chính là trụ cột cho những điểm tựa trong đời.
Cha tôi là một người Do Thái có học thức, giàu đạo đức và hết sức thông thái. Ngay từ khi tôi còn rất nhỏ, ông đã dạy tôi rất nhiều điều giá trị về cuộc sống, khiến tôi suốt đời không quên và hưởng lợi vô tận từ đó. Cha chính là điểm tựa quan trọng nhất trong cuộc đời tôi.
Con thuyền Noah của người Do Thái trong chiến tranh
Trung Quốc từng tiếp nhận hàng chục ngàn người Do Thái, trong đó có cả cha tôi. Cha và tôi, một già một trẻ, hai người với huyết thống Do Thái được an cư lập nghiệp ở Trung Quốc – chúng tôi thực lòng biết ơn Thượng Hải vì đã mở rộng vòng tay đón nhận. Năm 1933, phong trào “bài Do Thái” của Hitler ngày càng khốc liệt. Đức quốc xã chính thức phát động làn sóng đàn áp và tàn sát người Do Thái. Sau khi Đạo luật Nuremberg được công bố năm 1935, người Do Thái bị tước đoạt dân quyền và nhân quyền; tiếp sau đó, hơn 20.000 người bị nhốt trong các trại tập trung. Năm 1938, sau khi phát xít Đức xâm lược Áo, một làn sóng “bài Do Thái” mới lại xuất hiện. Sau Hội nghị Evian vào tháng 7 năm 1938, nhiều quốc gia đã thắt chặt chính sách nhập cư và người Do Thái gần như chẳng còn nơi nào để đi.
Khi tất cả các quốc gia đều đóng cửa, thành phố lớn duy nhất trên thế giới mở cửa cho người tị nạn Do Thái chính là Thượng Hải. Ngày 9 tháng 11 năm 1938, các cửa hàng, giáo đường và nghĩa trang Do Thái trên khắp nước Đức đều bị phá hủy. Đêm hôm đó, hàng vạn cánh cửa đã bị đập vỡ, khiến ngày này được gọi là “Đêm thủy tinh”. Các nhà khoa học như Einstein, những học giả như Freud và vô số người khác đã buộc phải rời khỏi quê hương trong giai đoạn đó. Sau khi Hiệp ước Bogue được ký, Thượng Hải là một thành phố rất cởi mở với các “tô giới”1 đặc thù. Tô giới công cộng và tô giới Pháp ở Thượng Hải đã trở thành một “hòn đảo biệt lập”. Đến đây, người ta không cần thị thực, cũng không cần đảm bảo tài chính. Tiếng lành đồn xa, nhiều người Do Thái ở Đức, Trung Âu và Đông Âu đang bị giam giữ trong các trại tập trung với không một xu dính túi đã có được một nơi để đến. Giữa thời điểm hoang mang cực độ đó, tổng lãnh sự Trung Quốc tại Vienna đã ban hành thị thực giúp giải cứu hàng ngàn người Do Thái – mà sau này được gọi là “thị thực cứu sinh”.
1. Theo luật quốc tế, tô giới là phần đất nằm trong một quốc gia có chủ quyền nhưng do một thực thể khác ngoài quốc gia đó quản lý. (ND)
Việc Trung Quốc kịp thời giang tay giải cứu chẳng khác gì một tia sáng nhân văn lóe lên trong bóng tối vô biên. Kết quả của loạt sự kiện này là sáu triệu người Do Thái đã bị tàn sát ở châu Âu, còn những người Do Thái trốn thoát thành công đã di cư đến Thượng Hải theo nhiều đợt. Thượng Hải trở thành con thuyền Noah, nơi hàng chục ngàn người Do Thái cư trú suốt giai đoạn Thế chiến II và chọn làm mảnh đất lưu vong.
Quân đội Nhật Bản lăm le xâm chiếm Thượng Hải, hai cha con bị giam giữ tập trung ở nhà tù Đề Lam, Hồng Khẩu
Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ vào ngày 8 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản đã chiếm toàn bộ vùng tô giới Thượng Hải. Một lần nữa, người tị nạn Do Thái rơi vào tình cảnh khốn quẫn. Ba tháng sau khi Nhật Bản ban hành lệnh hạn chế cư trú vào tháng 2 năm 1942, một số lượng lớn người Do Thái đã buộc phải tập trung vào “Khu vực cách ly người tị nạn Do Thái” ở sát cầu Đề Lam, Hồng Khẩu. Ban đầu, họ vốn dự định sử dụng “giải pháp cuối cùng” để xử lý người tị nạn Do Thái tại đây, nhưng cuối cùng, họ đã chọn cách thành lập một khu dân cư tập trung toàn bộ người tị nạn từ các quốc gia ở khu vực cầu Đề Lam. Một số người bị nhốt chung trong khu lưu giữ kiều dân Anh Quốc, cùng với công dân Hoa Kỳ, Anh và Hà Lan. Bấy giờ, có khá nhiều người chết đói hoặc ăn xin trên đường phố, nhưng hễ nghĩ đến việc bị nhốt trong trại tập trung, thì thà vạ vật ngoài lòng đường, góc hẻm của Thượng Hải vẫn còn may mắn. Nhóm người này bị nhốt ở đây suốt hai năm rưỡi, đến khi Nhật Bản đầu hàng mới được tự do. Số phận bi thảm đã nhiều lần thử thách khả năng sinh tồn của người Do Thái.
Do Thái là một dân tộc yêu chuộng cuộc sống. Sau khi Thế chiến II kết thúc, tại sao hàng chục ngàn người Do Thái chọn ở lại một quốc gia hoàn toàn xa lạ như Trung Quốc? Tôi đoán là vì ở Trung Quốc họ sẽ có bạn bè. Hai dân tộc thuộc hàng thông minh nhất thế giới này sở hữu những đặc tính hết sức gần gũi và tương đồng. Khi ấy, các chú các bác tôi cũng đã đến Thượng Hải. Họ không nhập cư theo diện chính quy. Họ trốn chạy. Trên con thuyền Noah mà Trung Quốc trao tặng, họ chẳng khác gì những sinh mệnh phiêu dạt giữa phong ba, bão tố.
Tôi may mắn được sinh ra ở Trung Quốc, vì vậy được tiếp nhận nền giáo dục đa dạng và mang tính pha trộn. Ở bên ngoài, tôi tiếp nhận nền giáo dục xã hội chủ nghĩa với bạn bè đồng trang lứa, nói được tiếng phổ thông và tiếng Thượng Hải chính cống, thậm chí cả phương ngữ vùng Tô-Bắc. Nhưng khi ở nhà, tôi lại được tiếp xúc với không gian đậm đặc văn hóa Do Thái. Ở lại Trung Quốc, tôi được chứng kiến lịch sử quan hệ giữa Trung Quốc-Israel, và đối với tôi – một hậu duệ Do Thái, thuộc thế hệ thứ hai của những người lưu vong đến Trung Quốc – thì một trong những tài sản và là di sản vô giá nhất cha dành cho tôi chính là trí tuệ cùng đức tin của người Do Thái. Năm 1948, khi đất nước Israel được thành lập, nhiều người đã hồi hương Đất Mẹ, bởi lẽ người Do Thái có tinh thần hướng về cội nguồn cực kỳ mạnh mẽ.
Cha dạy tôi rất nhiều tục lệ và nghi thức của người Do Thái. Ông còn dạy tôi tiếng “Yidixi” trong ngôn ngữ Hebrew cổ xưa. Do đó, ngôn ngữ giao tiếp được sử dụng thường xuyên nhất của chúng tôi là tiếng Yidixi, tiếp theo là tiếng Anh và tiếng Trung Quốc. Khi cha chuyện trò với tôi bằng tiếng mẹ đẻ của người Do Thái, không biết tại sao tôi vẫn hiểu được. Vì vậy tôi có thể giao tiếp với những người Do Thái trong Hội người Do Thái bằng tiếng Yidixi hoặc tiếng Anh. Cha luôn gọi tôi là “Saraji”, trong đó “ji” có nghĩa là em bé. Tôi cũng không gọi ông là “cha”, mà là “aba” – một cách gọi hết sức thân mật.
Người Do Thái đã mang yếu tố đa văn hóa đến Thượng Hải
Lịch sử luôn lưu lại những dấu tích. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc từng tiến hành nghiên cứu giai đoạn lịch sử đó và khẳng định những đóng góp của người Do Thái đối với Trung Quốc. Ví dụ, đa số các tiệm chụp ảnh cao cấp, nhà hàng phương Tây và quán cà phê đầu tiên của Thượng Hải đều do người Do Thái mở; về kiến trúc và âm nhạc, người Do Thái cũng mang tới rất nhiều nguồn tài liệu để trao đổi văn hóa. Sự phồn thịnh của một thành phố đòi hỏi những yếu tố đa văn hóa nhất định. Hàng vạn người Do Thái đến Trung Quốc lúc đầu hầu hết đều thuộc tầng lớp ưu tú, bao gồm các doanh nhân, nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ, kỹ sư, v.v… Trong thời gian sinh sống ở Trung Quốc, họ cũng để lại nghề nghiệp và đức tính của mình ở Thượng Hải. Tôi tin rằng vùng đất lưu giữ văn hóa Israel tốt nhất ở phương Đông chính là Trung Quốc. Đa số người tị nạn không phải là dân thường hay người nghèo. Rất nhiều người đến Trung Quốc (như cha tôi) đã mang theo cả tiền bạc, tài năng và trí tuệ.
Thượng Hải ngày nay hấp dẫn như vậy là bởi văn hóa của nơi đây rất cởi mở, bao dung. Theo nhiều nguồn ghi chép, có không ít bác sĩ Do Thái làm việc trong Tân Tứ Quân1. Sau đó, những người Do Thái này đã phiêu dạt đi khắp nơi trên thế giới hoặc trở về Israel, có lẽ hiện tại họ đều đã qua đời. Cuối cùng chỉ còn 4-5 người lưu lại Trung Quốc. Đó đều là những chuyện mà mãi sau này tôi mới được biết. Còn câu chuyện của cha, tôi cũng chỉ nhớ được những tình tiết vụn vặn. Xét từ một mức độ nào đó, việc rốt cuộc cha là người ở đâu, đã từng đạt được những thành tựu nào… ông chưa từng kể cho tôi nghe hoàn chỉnh.
1. Tên đầy đủ là Quốc dân Cách mạng Quân Lục quân Tân biên Đệ tứ quân. (ND)
Dân tộc trầm mặc và quá khứ đen tối không muốn nhìn lại
Khi còn nhỏ, có lần tôi trông thấy một hình xăm năm chữ số trên cổ tay của cha. Tôi tò mò hỏi ông. Ông chỉ trả lời qua quýt: “Đó là mã số người Do Thái sử dụng để uống nước ở Đức…” Tôi hỏi có phải cha từng bị bắt giam vào trại tập trung không, nhưng ông không trả lời. Tôi nghĩ ông không muốn nói ra. Lần khác, tôi nhìn thấy một vết sẹo sâu trên lưng cha và hỏi đó là gì. Cha kể với tôi rằng khi trốn đến biên giới, ông gặp phải hàng rào thép gai, và giữa trời đông buốt giá, ông buộc phải đào một cái hố bằng tay không, chờ đến khi đêm tối thì chui qua. Vất vả lắm mới đào xong, ông cẩn thận cuộn chặt bộ đồ và áo sơ mi của mình rồi đẩy qua hàng rào. Sau đó, ông mình trần chui qua cái hố giữa cái rét căm căm. Ông kể: “Nếu bộ âu phục bị hỏng thì sẽ không mặc được nữa. Cha cần ăn mặc sao cho mọi người không biết cha là một người tị nạn vừa trốn thoát, vì vậy quần áo phải tinh tươm. Cha biết những mũi thép sắc nhọn đó sẽ cào xước da thịt, nhưng vết thương nào rồi cũng sẽ lành thôi.”
Từ những mẩu chuyện chắp vá này, tôi đoán rằng sau khi rời khỏi Đức và Ba Lan, cha đã không lên thuyền để đi đường biển, mà chọn cách đi đường bộ. Chẳng trách ông luôn treo bộ âu phục cũ kỹ kia trong tủ quần áo chứ không bao giờ đem tặng người khác. Ông từng cho tôi xem bộ âu phục đó, túi giấu bên trong có thể chứa rất nhiều tiền. Ông còn chỉ cho tôi cách cất tiền sao cho kỹ.
Cha cũng kể một câu chuyện khiến tôi có cảm tình đặc biệt với “củ cải” trong suốt cuộc đời mình. Ông kể mình từng trải qua mùa đông khắc nghiệt ở Liên Xô, tuyết rơi rất dày và không thể tìm thấy thức ăn. Cha cố gắng bới tuyết để tìm thức ăn và tìm thấy một củ cải dưới lớp đất bùn sâu. Ông bảo, nếu không có củ cải đó thì chắc chắn ông đã chết đói. Cha đã thành công khi chạy trốn bằng đường bộ. Sau này tôi mới biết, những người Do Thái giàu có khi ấy sẽ dùng tiền bạc, châu báu để đổi lấy loại “thị thực lánh nạn”, nghe nói phải dùng cả bọc kim cương mới xin được thị thực là chuyện bình thường. Tuy nhiên, ngay cả khi nhận được thị thực cũng không đảm bảo rằng họ có thể sống sót, vì sau khi lên tàu, một số người vẫn phải trôi dạt hàng chục ngày trên biển và chẳng thể cập bờ. May mắn thay, Thượng Hải không cần thị thực. Thành phố với văn hóa duyên hải này đã nhân từ mở rộng vòng tay, tiếp nhận rất nhiều người Do Thái.
Có lẽ cha tôi đã băng qua Siberia và đến vùng đông bắc Trung Quốc trước. Hình như có một thời gian ông từng làm công nhân đường sắt ở Cáp Nhĩ Tân, nhưng có lẽ cảm thấy không hợp nên lại tiếp tục xuôi xuống phía nam. Khi đến Thượng Hải, như thể cảm nhận được bầu không khí cởi mở và mối duyên với nơi này, cảm giác đây là một chốn an toàn, nên ông đã chọn ở lại. Cha tôi có bản tính tự tu rất tốt. Ông đã một tay gây dựng cơ nghiệp ở Trung Quốc bằng số tiền ít ỏi mang theo. Tôi không thích mọi người nói dân tị nạn Do Thái đều là những kẻ nghèo hèn, bởi dân tị nạn chưa chắc đã là người nghèo, “tị nạn” đơn thuần chỉ mang hàm ý chính trị mà thôi. Thời thơ ấu, quả thực tôi luôn coi cha mình như một vị thần, cảm thấy ông thật tháo vát, tài giỏi và đầy trí tuệ, vì ông có thể nói tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Ba Lan, tiếng Anh… Ông biết tới hơn 10 ngôn ngữ và có thể giao tiếp với mọi người thuộc mọi tầng lớp của nhiều nước khác nhau. Dù nghe không hiểu, nhưng lúc nào tôi cũng nhìn cha trò chuyện với họ bằng ánh mắt ngưỡng mộ.
Cha cũng từng kể cho tôi nghe một lần ông đến công xưởng để mua bột, trên đường về đi qua một cây cầu, đầu cầu bên kia có mấy người Nhật. Vì không thích người Nhật nên ông không ngả mũ chào hỏi, thế là một gã Nhật lao đến giáng cho ông một cái tát. Nhưng ông vẫn nhất quyết không chào. Hôm đó, ông đội một chiếc mũ khá đắt tiền. Mặc dù bị gã Nhật kia tát mạnh đến nỗi văng cả mũ xuống đất, nhưng ông vẫn không cúi xuống nhặt. Ông nói với tôi rằng: “Đây không phải là đất nước của người Nhật. Cha và họ đều là người nước ngoài. Cha chẳng có lý do gì để bỏ mũ ra chào họ. Họ là những kẻ xâm lược và cha không bao giờ khuất phục họ. Chiếc mũ có thể bị rơi, nhưng lòng tự tôn của mình thì không thể đánh mất!” Cha luôn làm gương và dạy tôi về quy củ, phép tắc, sự giáo dưỡng và lòng tự tôn. Tôi tin rằng khi còn ở châu Âu, chắc chắn ông được sinh ra trong một gia đình quý tộc đáng kính. Nhưng cha từng làm nghề gì, sinh ra ở thành phố nào, sống ra sao, phải chịu đựng những gì, trước kia đã từng kết hôn và có con hay chưa – cũng có nghĩa là liệu tôi có người anh người chị nào hay không… đối với tôi, những điều đó mãi mãi là một bí ẩn.
Hầu hết các gia đình Do Thái khác cũng như vậy. Ví dụ, gia đình người Liên Xô đó chắc hẳn cũng là quý tộc vì họ rất giàu có, thậm chí một đứa trẻ như tôi cũng có thể nhận thấy, nhưng họ không bao giờ nói về điều đó. Người Trung Quốc có câu: “Vật dĩ loại tụ, nhân dĩ quần phân”1, hầu hết những người mà cha tiếp xúc đều có điều kiện kinh tế khá giả, học thức cao, phẩm vị đời sống cũng không phải hạng thường. Nhưng tất cả những người Do Thái mà gia đình tôi quen biết, dù giàu hay nghèo, là giáo sư, công nhân, thợ mài dao kéo hay bán xà phòng, đều không ai kể với người khác về những trải nghiệm của họ ở quê nhà. Họ, bao gồm cả cha tôi, không bao giờ nói về những gì họ đã trải qua ở châu Âu. Hầu hết người Do Thái ở Trung Quốc thời đó đều tránh kể về quá trình trốn thoát khỏi bàn tay của Đức Quốc xã. Ngay cả việc bản thân đã từng trải qua cuộc sống và môi trường như thế nào, họ cũng không bao giờ chủ động đề cập. Tôi hiểu rằng cha không bao giờ muốn vén bức màn này lên, vì vậy tôi cũng rất hiếm khi dò hỏi. Chắc hẳn đó là những mảnh ghép của quá khứ đen tối mà họ không muốn quay đầu nhìn lại. Tôi cảm thấy họ đang sống rất trọn vẹn mỗi ngày. Họ sẽ hàn huyên về cách làm bánh mì hôm nay, sao nó lại ngon đến vậy, hôm nay trà sữa rất thơm, đó là loại trà ở đâu… Nhưng sẽ không bao giờ nhắc tới những đau khổ và kiếp nạn mà họ đã trải qua, và tôi cũng chưa bao giờ nghe thấy những lời phàn nàn, oán thán của họ. Sau hàng ngàn năm lưu lạc khắp nơi, mất đi quê hương, liên tục bị tàn sát, Do Thái đã trở thành một dân tộc đau thương và trầm lặng.
1. Đồ vật được chia thành chủng loại, còn người cũng được chia thành tầng lớp khác nhau. (ND)
Xuyên suốt lịch sử nhân loại, Do Thái là dân tộc bị đàn áp trong thời gian dài nhất và chịu phạm vi ảnh hưởng rộng nhất. Từ thời bạo chính chuyên chế của Ai Cập cổ đại đến chiến dịch tìm diệt điên cuồng của Hitler, câu chuyện về sự sinh tồn của dân tộc này thấm đẫm máu và nước mắt. Tuy nhiên, họ đã không diệt vong vì bị săn đuổi. Người Do Thái luôn tôn sùng đức tin của mình, duy trì truyền thống văn hóa cùng phong tục quốc gia, và giữ lòng biết ơn. Sở dĩ việc người Do Thái có mối quan hệ không thể chia cắt với người Trung Quốc đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới, chính là bởi lịch sử nặng nề, số phận đau khổ và đức tin bất tử của dân tộc này.
Người Do Thái dù trải qua biết bao tang thương, khổ ải nhưng vẫn lạc quan, kiên nhẫn, tin tưởng vào tương lai, mến yêu cuộc đời và chú trọng đến phẩm vị cuộc sống. Đây chính là những tố chất đặc trưng của dân tộc Do Thái.