Cha tôi là một người Do Thái có học thức, giàu đạo đức và hết sức thông thái. Ngay từ khi tôi còn rất nhỏ, ông đã dạy tôi rất nhiều điều giá trị về cuộc sống, khiến tôi suốt đời không quên và hưởng lợi vô tận từ đó. Cha chính là điểm tựa quan trọng nhất trong cuộc đời tôi.
“Triết lý lựa chọn” trong ngày đi chợ vui vẻ
Kỷ niệm vui vẻ nhất trong ký ức tuổi thơ của tôi là được cha đưa đến lãnh sự quán Liên Xô để xem phim. Ngoài ra, điều tôi mong chờ nhất là “ngày đi chợ” vào Chủ nhật hằng tuần.
Sinh nhật thứ 10 của tôi, cha bảo: “Sara, hôm nay là sinh nhật con, cha đưa con đi chợ mua thức ăn nhé!” Lúc đó cha con tôi vẫn sống trong gian phòng cạnh khu vườn, có tài xế, bảo mẫu và đầu bếp, việc đi chợ mua thức ăn chẳng cần đến lượt tôi. Nhưng dường như cha luôn cảm thấy rằng ông sẽ không thể sống tới ngày sinh nhật thứ 12 của tôi nên hôm đó dù huyết áp rất cao, cha vẫn uống thuốc hạ huyết áp và chống gậy dẫn tôi đi mua thức ăn.
Tuy là đàn ông nhưng cha lại rất thích tự mình đi mua sắm, không những vậy còn vừa chọn đồ vừa nhận xét: “Đúng là rẻ thật, lại còn tươi nữa!” Đối với tôi, đi chợ không chỉ là thời gian hạnh phúc theo kiểu “ếch ra khỏi đáy giếng”, mà còn là khi được nhìn thấy đủ loại rau quả thịt cá, và tuyệt vời hơn cả là cha luôn dặn tôi nên mua những gì trước khi đi, yêu cầu tôi viết một danh sách mua sắm – công việc này khiến tôi cảm thấy rất hào hứng. Với những nét bút nguệch ngoạc, tôi viết ra một danh sách: dưa chuột, rau xanh, cá, tỏi, hành tây… Thứ lần nào cũng bắt buộc phải mua là dưa chuột.
Cuộc đời giống như một khu chợ, chúng ta phải học cách so sánh
Lúc đó cha đã 70 tuổi, còn tôi mới lên 10. Ông xách theo một chiếc giỏ to bện bằng rơm, còn tôi thì mang một chiếc giỏ nhỏ để đựng trứng. Ngay khi bước vào chợ, tôi đã nhìn thấy những sạp rau tươi, những sọt ớt màu sắc rực rỡ và cả những thúng cà chua đỏ chót. Tôi hào hứng giục: “Cha ơi, mua đi, mua ở đây đi!”
Nhưng cha chẳng hề “nghe lời”. Ông không mua ngay lập tức, chỉ xách giỏ rau và chậm rãi dắt tôi dạo qua các gian hàng. Tôi thấy rất lạ, cứ hỏi cha tại sao không mua luôn.
Lúc này cha mới quay sang giải thích: “Cuộc đời cũng giống như một phiên chợ, không nên mua ngay thứ mà mình nhìn thấy đầu tiên, con phải tiếp tục đi để xem những quầy hàng khác, con phải học cách so sánh.”
Vì vậy, chúng tôi tiếp tục đi đến một quầy hàng khác. Tôi thấy cà chua ở gian hàng này còn to và đỏ hơn những quầy ngoài kia, trông thật hấp dẫn. Cha tôi nói: “Nào con gái, bây giờ có thể mua rồi đấy!” Khi tôi lựa quả, cha đứng bên cạnh dặn dò: “Con phải thật chú ý, nhẹ nhàng cầm lên chứ đừng quăng ném nhé!”
Cha còn nói rằng: “Sau khi đi hết khu chợ này (đường đời), con sẽ không quay trở lại lối vào ban đầu. Cuộc sống từ khi bước vào cho đến lúc đi ra, sẽ là những ngả đường khác nhau, vì vậy con cần phải quan sát và chờ đợi thật cẩn trọng.”
Mọi điều cha dạy tôi đều là những triết lý hết sức hữu ích trong cuộc sống.
Không gian chính là cơ hội
Khi đó, chỉ mất ba tệ là có thể mua một giỏ đầy thức ăn. Nhân dịp này, cha dạy tôi: “Chiếc giỏ này là để đựng đồ, hay còn gọi là ‘vật chứa’, và nó sẽ không thể nới rộng hơn, chỉ là một ‘vật chứa’ theo quy ước mà thôi. Cũng giống như thời gian vậy, một ngày chỉ có 24 giờ, không ngắn hơn và cũng chẳng dài hơn.”
Cha nói tiếp: “Nếu không có sự so sánh thì khi đến hàng ớt đầu tiên con sẽ cảm thấy hàng này bán ớt rất ngon, nhưng khi đi tiếp, con lại phát hiện ớt ở hàng khác còn tuyệt hơn nữa. Thế nhưng, giỏ đã đầy mất rồi, liệu con có đựng được thêm ớt nữa không?” Tôi đáp: “Không ạ.”
Vậy là, cha không chỉ dạy tôi cách so sánh giá cả và chất lượng, ông còn dạy tôi một bài học rất quan trọng trong cuộc sống – không gian chính là cơ hội, chi phí cũng là cơ hội. Khi bỏ ra chi phí để mua một món đồ, có nghĩa là chúng ta đã từ bỏ các cơ hội khác. Cuộc sống cũng tương tự như vậy, mỗi chúng ta đều cần không gian. Nếu mỗi người chỉ chăm chăm lấp đầy cuộc sống của mình thì họ sẽ không còn không gian để tìm kiếm cuộc sống mà mình mong muốn nữa.
Khi dẫn tôi đi mua gà, cha nói rõ với người bán hàng rằng muốn một con gà mái khoảng ba cân, sau đó ông trả tiền rồi đi. Cha nói với tôi: “Mỗi khi con cần một thứ gì đó, với tiền đề là liệu còn ‘chỗ trống’ để lựa chọn hay không, con bắt buộc phải nói rõ cho người khác biết những gì con muốn, chứ không phải là ‘thế nào cũng được’.”
Cố tình mua một số thực phẩm kém chất lượng
Cha không bao giờ vội vã mua thức ăn mà luôn chậm rãi lựa chọn, nhưng cuối cùng cha sẽ cố tình mua một số thực phẩm kém chất lượng. Điều này thật kỳ lạ! Tôi hỏi tại sao lại làm vậy, cha mỉm cười: “Nếu như ai cũng chọn hết phần tốt, vậy thì những phần không tốt sẽ bán cho ai?” Điều đó có nghĩa chúng ta cần phải bao dung với khuyết điểm của bản thân và của cả người khác. Đó cũng là lý do sau này khi dạy con, tôi sẽ yêu cầu chúng “trước tiên hãy chọn một quả lê bị hỏng”. Chúng ta phải hỗ trợ những người bán hàng rong xử lý các loại rau củ quả bị hỏng, sau đó mới chọn tới những loại tươi ngon, đây chính là triết lý mà cha tôi đã dạy.
Chọn mua hành tại quầy hàng ở cửa chợ
Cha không bao giờ mặc cả với những người bán hàng rong, cũng không bao giờ cư xử như các bà nội trợ, kiểu mua xong rau lại xin thêm một ít hành. Thay vào đó, lần nào ông cũng sẽ mua thêm một vài củ hành ở ngoài cổng chợ. Tôi thắc mắc: “Cha ơi, trong chợ nhiều chỗ bán hành lắm, sao cha không mua mà lại mua ở ngoài này ạ?” Ông đáp lời: “Phía trong chợ là những quầy sạp chính thống, buôn bán ổn thỏa, nhưng những người bán rau ngoài này cũng cần phải kiếm sống, dù không có gian hàng nhưng họ cũng là con người mà.” Vì vậy, lần nào chúng tôi cũng mua hành và gừng ở các sạp ngoài cổng chợ. Hầu hết là sạp hàng của các cụ ông, cụ bà. Nếu thấy cụ nào lớn tuổi, cha sẽ mua nhiều hành hơn một chút.
Trứng cũng giống như tình bạn, hãy giữ gìn cẩn thận
Trứng thường được mua sau cùng. Điều này tương đồng với thứ tự trong cuộc sống của chúng ta. Mỗi khi mua trứng, cha thường nhẹ nhàng bỏ trứng vào chiếc giỏ nhỏ của tôi và nói rằng: “Trứng cũng giống như chặng đường đời mà con sẽ đi trong tương lai. Con phải nhớ rằng, vị trí các loại thức ăn trong giỏ có thể thay đổi tùy ý, nhưng trứng thì không. Nếu con để trứng cùng những món đồ cứng, sắc, trứng sẽ vỡ. Cũng giống như tình bạn, rất dễ bị tổn thương. Khi kết bạn với mọi người, con phải hết sức lưu tâm, vì họ không phải là người thân của con, họ không có nghĩa vụ phải tha thứ cho lỗi lầm của con. Còn cha có thể tha thứ mọi lỗi lầm ở con, vì cha là người thân của con. Trứng gà cũng giống như tình bạn, không thể chịu nổi va đập, thế nên cần phải bảo vệ cẩn thận tình bạn với bạn bè của mình, tuyệt đối không được nói những lời làm tổn thương người khác. Lời nói tựa như viên đá, hễ bất cẩn là sẽ làm vỡ trứng.”
Đây là những điều tôi đã trải nghiệm, và tôi không dám nói ra cho đến tận bây giờ. Sau khi trở về nhà, cha thường bắt tôi viết nhật ký về việc mua thức ăn. Cuốn nhật ký này đã ở bên tôi một thời gian rất dài, khoảng 40-50 năm.
Còn bây giờ, khi đã ở tuổi thất thập, nhớ lại những lời của cha, tôi hiểu ra rằng kỳ thực ông đã dạy tôi một triết lý cực kỳ quan trọng của cuộc đời, đó là mối quan hệ biện chứng giữa không gian và cơ hội. Khi đó, những điều cha nói có thể cũng mang hàm ý về cuộc sống hôn nhân, nhưng lúc ấy tôi còn quá nhỏ nên chưa hiểu. Mãi đến khi trưởng thành, tôi mới thấm thía rằng nếu nghe theo lời cha, chắc chắn tôi đã không phải đi những quãng đường vòng trắc trở đến như vậy.
Đừng chạm vào những thứ không thuộc về mình, dẫu chúng đẹp đến mấy
Ai trong chúng ta cũng tôn sùng những giá trị chân-thiện-mỹ và muốn có được tất cả những điều tốt đẹp. Thế nhưng, cha nói với tôi rằng: “Con không phải là người duy nhất trên thế giới này. Con không thể có được mọi thứ mà mình muốn. Vạn vật trên thế giới đều có logic sinh tồn của riêng chúng. Chúng ta luôn phải giữ tâm thế kính sợ chứ không được chiếm hữu, càng không được phá hủy chúng.”
Đó là mùa hè năm 1961, tôi mới 11 tuổi. Mùa hè ở Thượng Hải hết sức ngột ngạt, và trên các nhánh cây ngô đồng ngoài cửa sổ có rất nhiều ve sầu. Những buổi chiều oi bức, chúng như thể đang da diết kêu than: “Nóng chết đi được, nóng ơi là nóng!”
Những cánh cửa chớp gỗ trong phòng khách đã được đóng lại và quạt phả từng luồng gió qua những khối đá1 lớn, căn phòng nhanh chóng mát dịu. Cha tôi luôn giữ thói quen nghỉ trưa, ông đang nằm trên ghế sofa lớn, hai mắt nhắm nghiền, vẻ mặt an yên. Máy quay đĩa vẫn dặt dìu những giai điệu trong On wings of song, tác phẩm nổi tiếng của Mendelssohn. Tiếng nhạc du dương vọng tới mọi góc nhà, nhưng âm lượng không lớn nên có lẽ những người bên ngoài sẽ chẳng thể nghe thấy.
1. Thời xưa, các gia đình khá giả ở Trung Quốc thường giảm nhiệt độ trong nhà bằng cách đặt những khối băng đá trong phòng và bật quạt. (ND)
Thường thì các cô bé ở độ tuổi của tôi sẽ thích lang thang đuổi hoa bắt bướm trong vườn. Cha đang nghỉ trưa, còn tôi thì chẳng hề muốn đọc sách vào một ngày nóng nực như thế. Thế là tôi lén trốn cô bảo mẫu, và nhân lúc công nhân vận chuyển đá lạnh đang ra ra vào vào, tôi âm thầm lẻn ra vườn. Tôi đuổi theo những cánh bướm dập dìu, mải mê đào giun dưới gốc cây cổ thụ. Đột nhiên, tôi thấy có thứ gì nho nhỏ rơi từ trên cây ngô đồng xuống. Một con sâu róm xinh đẹp đang ngọ nguậy thân mình sặc sỡ, thuôn dài trên nền đất. Thấy nó thật dễ thương và đẹp đẽ, tôi cầm nó lên tay, định nhờ cô bảo mẫu bỏ vào lọ để ngày ngày chăm sóc và nuôi nó lớn.
Thế nhưng khi tôi tóm lấy, con sâu róm bỗng giận dữ xù lông, đâm thẳng vào lòng bàn tay tôi. Bàn tay ấy nhanh chóng sưng tấy, đỏ lựng, vừa đau vừa ngứa. Nước mắt tôi lã chã rơi nhưng lại chẳng dám ngoác miệng gào khóc.
Chúng ta thường không biết rằng, khi xem xét mọi việc theo logic của mình hoặc dốc sức nuôi dưỡng một sinh vật nào đó, thực ra chúng ta đã vi phạm các quy luật tự nhiên và xâm phạm quyền sinh tồn của sinh vật đó. Thế nên con sâu róm kia đã sử dụng toàn bộ “công lực”, dốc sức chống lại sự xâm phạm của tôi và chấp nhận dùng tính mạng để bảo vệ “phẩm giá sinh mệnh” của chính nó. Tôi cố nén cơn đau, lã chã nước mắt chạy vào phòng khách để cầu cứu cha.
Sẽ không có ai nên hoặc phải có nghĩa vụ phục vụ bạn. Dù cầu xin sự trợ giúp của ai đi chăng nữa, chúng ta đều phải thể hiện sự hối lỗi, ngay cả khi người đó là cha mẹ của bạn. “Cha ơi, con xin lỗi đã làm phiền giờ nghỉ của cha, nhưng cha giúp con nhổ những cái gai này ra với!” Cha vội vàng ngồi dậy, nhìn bàn tay nhỏ bé đang sưng tấy của tôi, nhanh chóng đi lấy hộp sơ cứu và giúp tôi tiêu độc bằng rượu.
Cha đeo cặp kính lão và cẩn thận giúp tôi rút từng cái gai ra. Tôi biết cha đang xót xa, nhưng cha vẫn cố tình làm ngơ trước khuôn mặt đẫm nước mắt của tôi và không hề nói nửa câu vỗ về.
Thông thường, trong quá trình giáo dục con cái, khi con vô tình phạm lỗi, cha mẹ hoặc sẽ trút giận lên con sâu róm, chỉ muốn giơ chân giẫm chết chúng cho hả dạ, hoặc sẽ không tiếc lời trách mắng con, bắt chúng tự làm tự chịu, mặc cho chúng đứng đó gào khóc. Cách giáo dục con của người Do Thái là giải quyết vấn đề trước, rồi mới giải thích đúng-sai, phải-trái.
Cha giúp tôi xử lý vết thương, quấn băng xong xuôi rồi mới ân cần hỏi: “Có đau không con?” Ông vừa chậm rãi lấy khăn lau mặt cho tôi, vừa bắt đầu dạy dỗ tôi. Bàn tay sưng đỏ này là cái giá đau đớn mà tôi buộc phải hứng chịu vì đã xâm phạm đến sinh mệnh. Cha bảo tôi ngồi bên cạnh, mỉm cười đôn hậu và nói: “Sara này, con nhất định phải nhớ rằng con là người thân duy nhất của cha, là duy nhất trong gia đình này, nhưng chắc chắn con không phải là duy nhất trên thế giới này. Trên thế giới có rất nhiều thứ dễ thương và đẹp đẽ, có rất nhiều thứ mà con sẽ thích, nhưng không phải cứ muốn là được. Con không nên buông lơi trí tò mò, nhưng cũng không được tùy tiện chạm vào và cố gắng chiếm đoạt điều gì đó. Đặc biệt là với một cô gái, phải suy nghĩ kỹ trước khi làm bất cứ điều gì. Những thứ không thuộc về con thì dẫu đẹp đẽ đến mấy cũng không được chạm vào. Kính sợ từng sinh mệnh trong thế giới tự nhiên này chính là một trong những đức tính tốt đẹp nhất của con người.”
Nói hết những lời dạy dỗ rút ruột rút gan đó, cha nhẹ nhàng ôm tôi vào lòng, như thể đổ tràn tình yêu thương nồng ấm lên tâm hồn bé nhỏ của tôi. Con sâu róm xinh đẹp có thể khiến tôi đau buốt, nhưng đồng thời, cũng giúp tôi ngộ ra một quy tắc sinh tồn trong suốt chặng đường đời. Đó là dẫu gặp chuyện gì cũng phải cân nhắc kỹ lưỡng rồi mới hành động, khi gặp chuyện phải biết nhượng bộ, phải dùng tâm thái kính sợ để đối diện với thế giới, vừa phải tôn trọng quyền lợi của người khác, nhưng cũng phải giữ trọn không gian sinh tồn của mình.
Thông qua “sự kiện sâu róm” lần này, cha đã dạy cho tôi cách tôn trọng từng sinh mệnh trên thế gian, đối xử tử tế với mọi người, cảm ơn đất nước và người dân nơi đây vì đã tôn trọng, mở rộng tấm lòng bao dung với người Do Thái. Bởi lẽ trên thế giới này, dù có vui, buồn, mừng, giận ra sao, bạn cũng không thể là duy nhất. Do đó, chúng ta không thể lấy mình làm trung tâm, lấy lợi ích của riêng mình làm tiêu chuẩn đánh giá mọi việc. Bạn là duy nhất của riêng bạn, hoặc của gia đình bạn, nhưng chắc chắn không phải là duy nhất trên thế giới này. Vì vậy, chúng ta phải học cách tôn trọng sinh mệnh, học cách khoan dung, học cách kính sợ!
Lời dạy dỗ nghiêm túc trong đêm mất điện
Phòng ngủ của cha con tôi ở trên tầng ba, cha ngủ trong phòng lớn, còn tôi ngủ phòng bên cạnh. Thông thường, chúng tôi đi ngủ lúc chín giờ tối. Lúc còn nhỏ tôi rất sợ bóng tối, nên thường bật đèn khi đi ngủ. Thói quen này vẫn còn cho đến tận ngày nay.
Một đêm nọ, đột nhiên mất điện, cả căn nhà bỗng chốc chìm trong bóng tối. Tôi lập tức tung chăn, nhảy ra khỏi giường, chạy chân trần đến thẳng giường của cha để chờ có điện trở lại. Sau khi có điện, tôi trở lại phòng để đi giày, cha đã cho tôi lời căn dặn mà suốt đời tôi không thể nào quên, và bây giờ tôi cũng dạy dỗ các con của mình như vậy.
Cha nhìn tôi với ánh mắt nghiêm nghị, rồi chậm rãi bảo rằng: “Trong đêm tối, con không nên mở một cánh cửa mà con không hề quen thuộc, bởi biết đâu, bên trong là hiện trường một vụ án mạng thì sao?” Ông nói thêm: “Khi gặp khó khăn, con có thể đứng yên một chỗ, chứ đừng nghĩ rằng mình thông minh và mở toang cửa phòng của ai đó, đừng tùy tiện xông vào phòng người khác, cho dù nơi đó đang sáng đèn.” Tôi tò mò hỏi cha: “Tại sao ạ?” Ông đáp: “Bởi vì con không thể biết được trong phòng có thứ gì. Bất cứ điều gì chúng ta chưa biết đều ẩn chứa rủi ro. Con không thể biết được bên trong liệu có án mạng hay không, liệu có ai đó định hãm hại con hay không, và chỉ cần con chạm tay vào cửa là trên nắm đấm cửa sẽ lưu lại dấu vân tay của con. Sara này, hôm nay con nhảy lên giường cha, chạy vào phòng của cha, ở đây không nguy hiểm. Nhưng con phải nhớ rằng, cuộc sống trong tương lai rất có thể sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.”
Khi lớn lên, tôi dần hiểu được ý nghĩa trong câu nói ấy của cha. Vì vậy, trong cuộc đời mình, tôi không bao giờ tự ý bước vào một căn phòng không quen thuộc, chứ đừng nói đến những hành động như tự tay mở cửa, thò đầu vào ngó nghiêng, v.v… Sở dĩ tôi chưa từng vô duyên vô cớ bị cuốn vào những chuyện thị phi bởi từ rất sớm cha đã giúp tôi hiểu được rằng: những người không suy tính trước sau, không có ý thức về rủi ro, chính là đối tượng dễ bị hãm hại nhất.
Tại sao tôi lại ấn tượng sâu sắc đến vậy với những câu nói kia của cha? Đó là bởi trong đêm hôm đó, ông đã khiến tôi cảm nhận được một sự ấm áp hiếm hoi trong khía cạnh giáo dục con cái của người Do Thái. Cha hiếm khi ôm tôi vào lòng, nhưng khoảnh khắc vòng tay ông siết chặt, đôi mắt toát lên vẻ nghiêm nghị… đã khiến tôi suốt đời không quên.
Người cha già dạy bảo cô con gái nhỏ: Triết lý an toàn cho cuộc sống và khi lựa chọn bạn đời
Ông cũng nói với tôi một câu mà lúc đó tôi chưa đủ khả năng lĩnh hội: “Mọi chuyện đều có thể xảy ra, cho dù đó là điều tốt hay điều xấu. Vì vậy, dù xảy ra bất cứ chuyện gì, Don’t be true, be clever.” Tôi xin giải thích thêm, câu nói đó mang nghĩa là: Chớ nên hoàn toàn trung thực, bởi đôi khi nói sự thật không thể giúp ích cho đối phương và chính bạn. Thay vào đó, hãy làm những việc thông thái và nói những lời thông minh.
Cách dạy của cha rất độc đáo. Chẳng hạn, thường các bậc phụ huynh sẽ dặn con không được chạm vào ổ điện, sợ chúng bị giật, nhưng chủ yếu họ toàn giảng giải lý thuyết. Nhưng cha chưa từng giảng giải lý thuyết mà luôn thực nghiệm cho tôi xem. Đầu tiên, cha tháo công tắc ra và dùng bút điện chạm vào. Đèn trong phòng lập tức sáng lên; tiếp đến, ông dùng một sợi dây điện khác chạm vào vị trí đó, và căn phòng tối đen ngay lập tức, khiến tôi giật mình hoảng hốt. Sau đó, ông cầm chiếc đèn pin đã được chuẩn bị sẵn trong phòng, đến chỗ áp-tô-mát và cắm cầu chì (cũng được chuẩn bị trước) vào đó, cả căn phòng lại sáng trưng. Cha chẳng cần nói quá nhiều mà vẫn khiến tôi giật mình hoảng hốt, và kể từ đó tôi không bao giờ chạm vào những thứ nguy hiểm.
Thời điểm đó, có lẽ người cha già của tôi đã linh cảm mình không còn nhiều thời gian nữa nên ngay từ rất sớm, ông đã thường xuyên chỉ bảo cho tôi biết rằng khi lớn lên, tôi cần trở thành một người phụ nữ như thế nào. Ông nói với tôi: “Đường đời của con vẫn còn rất dài. Đừng bao giờ quên rằng con sẽ trở thành một cô gái rất xinh đẹp, con sẽ có cơ hội gặp gỡ rất nhiều chàng trai. Hãy nhớ: khi đến tuổi cập kê, nếu được người khác làm mối cho một chàng trai nào đó, dù không thích anh ta đến mấy, con cũng không được để đối phương nảy sinh ác cảm với mình. Cần phải biết lịch sự từ chối. Dù đó là do người khác giới thiệu hay con tự mình quen biết, con đều phải mỉm cười tươi tắn mỗi khi gặp gỡ. Con có thể quyết định lần sau không gặp nữa, có thể viện ra 100 cái cớ để từ chối, nhưng từ giây phút đầu tiên cho đến khi chào tạm biệt, con phải giữ trên môi nụ cười, giữ sự tôn trọng trọn vẹn đối với họ. Cho dù trong lòng con rất không thích anh ta, cũng không được tùy tiện tỏ thái độ.”
Cha còn dặn rằng: “Đừng để lại ấn tượng xấu với người khác. Khi đối nhân xử thế nhất định phải lịch sự, vui vẻ, cởi mở. Sự giỏi giang và tài cán thì không phải ai cũng có, nhưng sự cởi mở và lịch sự thì con hoàn toàn có thể làm được.” Cha quả thực đã “lợi hại” như thế: ngay khi tôi còn nhỏ, ông đã dạy rất nhiều phép tắc chuẩn mực của phụ nữ. Ông dạy tôi phải biết giữ phép lịch sự, phải đúng mực khi từ chối ai đó. Khi yêu đương, ngay cả việc trò chuyện với nhau cũng phải biết giữ ý tứ, bởi nếu tranh cãi đến mức tuôn ra những lời nhục mạ với đàn ông thì rất dễ dẫn đến tai họa. Đọc những bài viết về thực trạng xã hội hiện nay, có không ít trường hợp đàn ông ra tay sát hại người yêu sau khi chuyện yêu đương không thành. Bạn thấy đấy, ngay từ tấm bé, tôi đã được người cha già của mình chỉ dạy tỉ mỉ cách từ chối sự theo đuổi của các chàng trai.
“Sara, sau này, khi lựa chọn người yêu hoặc bạn đời, nhất định con không được đánh giá anh ta qua điều kiện kinh tế, mà chỉ cần để tâm xem người đó có thực sự quan tâm đến mình hay không, có biết con cần gì hay không. Chỉ những người thực sự nắm rõ nhu cầu của con mới thực sự yêu thương con! Ví như một người biết con thích ăn trứng gà, anh ta thấy trong tủ lạnh không còn trứng gà nữa, biết rằng con rất bận nên trong lúc con vẫn chưa biết trứng gà đã hết, anh ta đã chủ động đi mua. Đó chính là người thực lòng yêu thương con. Con gái à, con cần tìm được một người vừa quan tâm, vừa tôn trọng con như vậy.”
Hãy luôn ghi nhớ 1% những điều tốt đẹp mà người khác đối xử với mình
Lần nọ, cha nói với tôi: “Đừng tùy tiện oán hận ai đó. Nếu không may gặp phải một người đối xử rất tệ bạc với con, hãy nghĩ thử xem liệu người đó đã từng đối xử tốt với con chưa. Cho dù họ chỉ đối tốt với mình một lần duy nhất, con cũng phải học cách ghi nhớ lần đối xử tốt đó của họ, chứ không nên ghi nhớ 99 lần đối xử tệ kia. Khi chung sống với nhau, có 100 cơ hội để đối xử tốt với con, nếu chỉ có một lần họ đối xử không tốt, con càng không nên ghét bỏ họ. Oán hận người khác chỉ mang lại cho con nhiều nỗi oán hận hơn. Vì tâm trí chúng ta không thể chịu được việc oán hận người khác và bị người khác oán hận, nên ta phải học cách yêu thương, tôn trọng tất cả mọi người. Làm người thì không được tùy tiện, bởi tùy tiện chính là nguồn cơn của bất hạnh.”
Phép lịch sự của một vị Tổng thống không thể thua kém một người nông dân
Lincoln là một vị Tổng thống vĩ đại, ông có công rất lớn trong việc xóa bỏ chế độ nô lệ da đen ở Mỹ. Một lần nọ, Lincoln và con trai lái xe đến một vùng hoang dã bằng chiếc xe mui trần. Đột nhiên, Lincoln nhìn thấy một người nông dân ngả mũ, cầm chiếc khăn thấm mồ hôi và vẫy tay với mình. Thấy vậy, Lincoln cũng lập tức ngả mũ ra chào lại. Con trai của Lincoln thấy khó hiểu, bèn hỏi: “Cha ơi, anh ta chỉ là một nô lệ da đen, một người được cha giải thoát. Đường đường là Tổng thống của một quốc gia, tại sao cha phải bỏ mũ như anh ta? Con không nghĩ là cha nên ngả mũ ra. Chào đáp lễ như vậy là quá long trọng.” Câu trả lời của Lincoln rất đơn giản: “Này con trai, lẽ nào con muốn cha mình còn không lịch sự bằng một người nông dân?”
Cha kể câu chuyện này năm tôi 11 tuổi, và nó đã đi cùng tôi suốt chặng đường đời.
Sau này, khi trở thành “ngôi sao từ thiện” ở Thượng Hải, tôi cũng rất mực biết ơn người cha đang ở trên thiên đường của mình, bởi một nền giáo dục gia đình trọn vẹn chính là khởi điểm tốt nhất của cuộc đời. Cha đã luôn chỉ dạy cho tôi cách bồi dưỡng những phẩm chất ưu tú nhất.
Tôi nhớ có một buổi sáng, cô bảo mẫu người Dương Châu đang giúp tôi chải tóc. Thời đó chưa có sáp tạo kiểu nên cô bảo mẫu phải đi kiếm mùn cưa về và ngâm qua đêm, sau đó chắt thứ nước sánh đặc đó ra để chải tóc cho tôi. Nước mùn cưa rất dính, chải lên khiến tóc bị kéo căng, làm tôi kêu la oai oái. Tôi biết cha nghe thấy, nhưng ông chẳng nói gì. Tôi không dám phàn nàn với cha, nhưng vì không chịu được đau nên thi thoảng tôi lại kêu lên. Tôi biết tính cha, ông sẽ không bao giờ dạy dỗ tôi khi có mặt người khác. Ông là một bậc thầy về việc xử lý các vấn đề trong gia đình và không bao giờ tham gia khi có chuyện xảy ra. Trong nghệ thuật quản lý hiện nay, phương pháp này được gọi là “xử lý lạnh”.
Lúc đó cha không nói gì, nhưng sau bữa trưa, cha liền gọi tôi lại. Tôi thấy hết sức hoang mang. Lẽ nào mình đã làm sai điều gì? Tại sao cha lại nói “Con sang đây” với giọng nghiêm nghị như vậy? Tôi rụt rè bước tới, ngồi xuống và hỏi: “Có nước để uống không ạ?” Ông lạnh lùng đáp: “Con tự lấy đi!” Thế là tôi bèn tự đi rót. Sau đó, cha mới nói với tôi bằng giọng đầy tâm tư: “Lúc ở cùng cô bảo mẫu, con kêu la gì vậy?” Tôi ấm ức kể lể: “Cô ấy chải tóc làm con đau chết đi được!” Cha nghiêm giọng: “Nói lại lần nữa.” Tôi trả lời lại: “Hôm nay cô ấy chải tóc cho con, con đau chết đi được…” Lần này tôi đã hạ bớt tông giọng, vì cảm thấy không nên than thở với người không hề làm tổn thương mình. Nhưng cha vẫn yêu cầu: “Nói lại lần nữa xem.” Vốn sáng ý, tôi đoán chắc mình đã nói sai gì rồi, thế là tôi chuyển ngay về giọng bình thường, chỉ kể khổ rằng: “Sáng nay cô bảo mẫu chải tóc cho con, con chẳng thích dùng nước chải tóc đó, nhưng cô ấy cứ chải thật mạnh, con đau chết đi được.”
Có lẽ thấy tôi chẳng thể sửa đổi được nữa, nên cha bắt đầu giảng giải: “Cha biết là con đau, nhưng đã đến nỗi chết chưa?” Tôi lập tức cúi gằm mặt. “Cái chết là điểm dừng chân của con người, ‘chết’ là từ rất đặc biệt, con không nên dùng tùy tiện như vậy.” Và thế là tôi hiểu mình đã nói sai điều gì. Không được phép nhắc đến từ “chết”, đó chính là tiêu chuẩn nghiêm khắc nhất của cha. Và nó cũng trở thành chuẩn mực trong cách dùng câu dùng từ thường ngày của tôi. Ngoài ra, ông cũng dạy tôi rất nhiều nguyên tắc để nói năng một cách văn minh: “Trước khi nói ra lời nào, cần phải trải qua ba cửa: cửa thứ nhất là não bộ, cửa thứ hai là hàm răng, cửa thứ ba là lưỡi. Những câu từ trải qua được cả ba cửa này mới được phép thốt ra ngoài.” Tôi hiểu rằng cha đang dạy tôi ăn nói phải biết cân nhắc và suy nghĩ sao cho thật thấu đáo.
Cha tiếp tục dặn dò: “Con phải tôn trọng sức lao động của người khác và học cách chờ đợi. Mỗi người lao động đều có những điểm mạnh khác nhau, con có thể học hỏi được nhiều điều từ họ. Nhưng nếu con không tôn trọng sự cống hiến và công sức của họ, làm sao họ có thể dạy cho con sự khôn ngoan của họ đây?”
“Con người sẽ có những lúc cần giúp đỡ. Khi con giúp đỡ người khác, trong tương lai, sẽ có những người khác giúp đỡ con. Trên thực tế, bất kể con đến nơi đâu, sẽ luôn có một con mắt dõi theo con.
Nếu những điều con làm không tuân theo phép tắc, không danh chính ngôn thuận, thì về lâu về dài, chắc chắn con sẽ chẳng có đường lùi.”
Có thể không học piano, nhưng không thể không học cách làm người
Cha từng nói: “Nếu là trước đây, chắc chắn cha sẽ cho con học chơi đàn piano, nhưng giờ chúng ta là người tị nạn Do Thái… Con có thể không học piano, nhưng không thể không học cách làm người.” Giờ đây hồi tưởng lại, trong những ngày tháng hai cha con sống cùng nhau, hầu như những điều ông nói ra đều là những đạo lý hữu ích, dạy tôi nên người. Một lần nọ, ông nói: “Ở Trung Quốc, chúng ta là người nước ngoài, bất cứ chuyện gì cũng phải biết khiêm nhường, giữ lễ.” Khi còn nhỏ, tôi thường chơi nhảy dây cùng bạn bè. Ông dặn dò tôi rất kỹ: dây cao su dễ bị đứt, con không nên lấy dây của bạn để chơi, mà hãy dùng dây của mình, ngoài ra phải chan hòa với các bạn. Điều mà cha dạy tôi ở đây chính là đạo lý “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”.
Còn nhớ khi tôi 10 tuổi, bác đầu bếp ở tầng dưới thường làm bánh cuộn cho mọi người ăn, nhưng đến lượt tôi thì chỉ nhận được toàn là phần bánh ở góc, tôi thấy hơi chạnh lòng. Biết tôi không vui, cha bèn nhẹ nhàng giảng giải: “Con gái à, đây là thứ người khác cho con, không phải thứ mà con tự tay làm ra. Con chẳng có lựa chọn nào khác, thế nên đừng yêu cầu gì ở họ.” Trong quá trình trưởng thành của tôi, cha luôn đặt việc giáo dục nhân cách lên hàng đầu. Ông từng viết những từ sau trong cuốn sổ tặng tôi: bác ái, cảm ơn, thành tín, nhẫn nại, lạc quan. Và sau tất cả những chữ này, ông mới viết đến hai chữ “tri thức”. Ý nghĩa của điều này, có lẽ không cần nói thì các bạn cũng hiểu.
Lời nói và việc làm không được tùy tiện
Khi tôi còn nhỏ, cha trông nom tôi rất nghiêm và đưa ra kha khá “lệnh cấm”. Ví dụ, không được phép đi bơi, không được phép mặc đồ bơi. Cách quản giáo của người Do Thái đối với con gái là: quần áo không được phép để lộ cánh tay và gấu váy ít nhất phải dài qua đầu gối, vì vậy, đối với ông, mặc áo tắm là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Do đó, tôi không được học bơi khi còn nhỏ và đến tận bây giờ cũng chưa biết bơi. Ngoài ra là những quy tắc như khi ăn không được phát thành tiếng, không được nói năng ầm ĩ. Khi trò chuyện chỉ nên nói đủ để bản thân và đối phương nghe thấy, không nên để người thứ ba biết mình đang nói những gì. Để người thứ ba nghe thấy giọng nói của mình tức là bất lịch sự với họ. Ngoài ra, không được phép tùy tiện động chân động tay, một người con gái được nuôi dạy đàng hoàng sẽ không bao giờ tùy tiện đụng chạm vào người khác. Ở trường, dù là người nước ngoài duy nhất, nhưng tôi cũng được giáo dục như các học sinh Trung Quốc khác. Cha đã nhiều lần nhắc tôi phải tuân thủ các quy định trong trường như học sinh bản địa. Lớn lên, tôi ngày càng ưa nhìn với những đốm tàn nhang nhỏ trên mặt, hàng mi cong vút và làn da trắng ngần, vì thế nỗi lo lắng của cha còn lớn hơn. Ông luôn nhắc nhở tôi: chúng ta đang ở nơi đất khách quê người, nhất định phải cẩn trọng từng lời ăn tiếng nói và hành động cử chỉ, gặp bất cứ chuyện gì cũng phải biết khiêm nhường, giữ lễ với người khác. Có lẽ điều này liên quan đến những trải nghiệm trong quá khứ của dân tộc Do Thái, lúc nào họ cũng phải giữ lại một chút thận trọng. Nhưng đây chính là đặc điểm của người Do Thái: thông minh, cảnh giác cao, luôn nghiêm cẩn giữ mình khi sống nơi đất khách quê người.
Cần tránh khẩu nghiệp, vì “thiện ý một câu ấm ba đông, lời ác lạnh người sáu tháng ròng”
Cha từng kể tôi nghe câu chuyện này. Một con gấu bị thương nặng trong trận chiến với đồng loại, nó tìm đến căn nhà gỗ của người gác rừng để xin giúp đỡ. Người gác rừng thấy nó đáng thương, bèn cho nó ở lại. Buổi tối, người gác rừng kiên nhẫn lau rửa và băng bó vết thương cho gấu, không những vậy còn chuẩn bị một bữa tối ngon lành cho nó ăn; tất cả những điều đó khiến gấu hết sức cảm động. Khi đến giờ đi ngủ, do chỉ có một chiếc giường nên người gác rừng bảo gấu lên ngủ chung với mình. Nhưng lúc gấu chui vào trong chăn, một mùi hôi hám xộc thẳng vào mũi người gác rừng làm ông thất kinh: “Trời ạ! Ta chưa bao giờ ngửi thấy mùi nào kinh khủng đến vậy, ngươi đúng là con gấu hôi nhất thế gian này!” Gấu chẳng nói chẳng rằng, sau đó cũng chẳng thể nào chợp mắt, miễn cưỡng chờ đến khi trời sáng thì cảm tạ người gác rừng và bỏ đi. Nhiều năm sau, trong một lần tình cờ gặp lại, người gác rừng hỏi gấu: “Vết thương năm đó giờ đã lành chưa?” Gấu đáp lời: “Vết thương ngoài da thịt thì tôi đã quên từ lâu, nhưng vết thương trong lòng thì mãi mãi chẳng thể lành!”
Đồng thời, ông còn nhắc đến câu thành ngữ “ác ngữ thương nhân lục nguyệt hàn”1 và giải thích rằng: “Truyền thống của người Á Đông là làm việc gì cũng phải tính đường lùi cho người khác, như vậy sau này mới có thể gặp lại họ.” Cha dạy tôi phải nói năng cẩn thận và luôn cố gắng bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp cho tôi, bởi ông hy vọng khi bước ra ngoài xã hội, tôi sẽ không bị thiệt thòi, mong tôi có thể dễ dàng tự lập.
1. Lời ác lạnh người sáu tháng ròng.
Những ngôn ngữ tục tĩu, thô thiển không bao giờ xuất hiện trong phạm trù của tôi, từ nhỏ tôi đã bồi dưỡng được thói quen này. Tương tự như vậy, tôi cũng dạy bảo ba đứa con mình: tuyệt đối không được tùy tiện làm mất lòng người khác, không được ăn nói trước sau bất nhất, bàn chuyện thị phi và chê cười khuyết điểm của người khác.
“Làm người phải luôn chừa một đường lùi cho người khác, cho dù bản thân đúng đắn mười phần, cũng phải để lại ba phần thể diện cho người khác.” Đây là lời dạy của cha khi tôi còn nhỏ. Cha thường nói rằng, trước kia người Do Thái không có đất nước của riêng mình, phải ngụ cư trên đất đai của người khác, thế nên làm bất cứ điều gì cũng không được quá đà, phải chừa lại đường lùi cho họ.
Uống trà chiều với cha, khoảng thời gian đẹp nhất trong tuổi thơ tôi
Cha dạy tôi tận hưởng một cuộc sống thượng lưu và nho nhã. Nếu đó là thời thái bình thịnh trị, ông hẳn phải là một quý ông phong nhã. Ông hay đưa tôi đi gặp gỡ bạn bè, đôi khi dùng bữa, đôi khi uống trà chiều. Cha thường xoa đầu tôi bảo: “Sara, một trong những công việc cốt lõi của người Do Thái là sống cuộc đời hạnh phúc, đừng bao giờ chỉ vì sinh kế mà lơ là việc tận hưởng cuộc sống, nó sẽ khiến con mất đi nhiều điều tốt đẹp.” Những khi nhàn rỗi, người Do Thái thường chú trọng đến giao tiếp và trò chuyện. Ngoài việc ăn uống, ngủ nghỉ, họ luôn dành một khoảng thời gian đáng kể để trò chuyện với nhau.
Trong ký ức tuổi thơ tôi, cha là một người rất yêu cuộc sống và nho nhã. Cha thường dẫn tôi đi nghe nhạc và thưởng trà. Tôi nghĩ thời gian thư giãn nhất đối với ông có lẽ là lúc lặng lẽ ngồi nghe nhạc một mình. Còn nhớ ông rất thích nghe những ca khúc Do Thái như The silent lake và The wings of song. Cha từng nói với tôi: “Lời ca tiếng đàn chính là những linh hồn bất tử, bởi dù ca từ đau buồn hay vui vẻ, chúng đều giúp con người tìm được niềm vui.” Ở nhà, người cha “gà trống nuôi con” của tôi luôn chuẩn bị đồ ăn nhẹ, có lúc là một quả táo, đôi khi là một chiếc bánh trứng hình vuông. Cha cũng sẽ hỏi tôi muốn ăn gì, và bất cứ món gì mà tôi muốn, ông đều cố gắng chuẩn bị. Thời gian uống trà chiều, ăn bánh ngọt với cha chính là những khoảnh khắc tuổi thơ đẹp đẽ nhất, vui vẻ nhất của tôi.
Cha thường đưa tôi đến cửa hàng thực phẩm Đệ Nhất để mua món thạch yêu thích – màu trắng ngà, nhìn giống như những thớ phở dày – đây là món ăn vặt mà tôi rất mê. Hằng năm, dù chưa đến mùa hè nhưng hai cha con đã dắt tay nhau đi mua món đó, điều này khiến tôi hiểu được rằng: Cuộc sống luôn cần đến sự chuẩn bị, phải mua sẵn những thứ cần thiết. Vào thời điểm đó, nó là loại thực phẩm tương đối đắt tiền. Mặc dù quầy bán thạch nằm tít bên trong cửa hàng thực phẩm Đệ Nhất, đã vậy còn rất nhỏ, nhưng tôi vẫn nhớ như in. Chúng tôi ăn đồ ngọt ít nhất một lần một tuần. Tôi nhớ họ có những món như nho khô, hạnh nhân, kẹo trái cây và cả mứt cà rốt màu đỏ. Các nguyên liệu này được trộn với gạo, pha cùng đường, đá và mật ong thành một loại “cơm ngọt” rất ngon. Đây là truyền thống lâu đời của các gia đình Do Thái sinh sống ở Đức và Ba Lan. Nhiều người thấy nước soda uống không ngon, nhưng cha thường sẽ thêm một ít soda khi làm kem, vì vậy tôi đã quen uống soda ngay từ khi còn rất nhỏ.
Sau khi lên tiểu học, mỗi tối tôi đều phải làm bài tập về nhà. Do thành thạo tiếng Trung nên thỉnh thoảng cha sẽ hướng dẫn tôi làm. Những lúc rảnh rỗi, hai cha con tôi thường nghe nhạc. Trong nhà có một máy quay đĩa kiểu cổ, hễ dùng một lúc là nóng ran. Cha thường đặt vào đó rất nhiều đĩa than để nghe dần. Cha từng khen khả năng cảm thụ âm nhạc của tôi rất tốt. Có lẽ đó là lý do lúc nào tôi cũng yêu ca hát. Cho đến giờ, tôi vẫn còn nhớ vẻ mặt thư giãn của cha khi ngồi tựa lưng vào ghế. Ông vừa nghe những bản nhạc êm dịu, vừa nhấm nháp đồ ăn vặt và kể cho tôi nghe đủ chuyện trên trời dưới bể.
Cha không uống rượu, nhưng ông lại rất biết thưởng trà. Bởi luôn đi theo cha nên từ nhỏ tôi đã được thưởng thức đủ loại trà ngon từ khắp nơi trên thế giới. Từ trà Ceylon1 cho đến loại trà đen thượng hạng của Trung Quốc, tôi đều rất quen thuộc. Nhiều người có thể thắc mắc: rất ít phụ nữ thành thạo về trà, tại sao tôi lại biết nhiều đến vậy. Đó là vì ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã biết mùi vị của những loại trà ngon; không những vậy, tôi còn sưu tầm rất nhiều loại trà thượng hạng. Loại trà hoa nhài mà tôi uống khi còn nhỏ thường được thêm chút đường, nhưng tôi thì không thích như vậy. Tôi sẽ nói với cha rằng: Trà này không ngon. Khi đổi sang loại trà đen ngon nhất ở Trung Quốc, tôi thấy nên cho một chút sữa vào thì ngon hơn, nhưng trong trí nhớ của tôi, hương vị của loại trà này không thơm. Tôi cũng được nếm thử những loại trà Anh thượng hạng. Cha con tôi thật may mắn vì khu Thập Lý Dương Trường tập trung nhiều người ngoại quốc sinh sống, nên có nhiều cách để mua được những thứ tốt nhất từ khắp nơi trên thế giới. Tôi nhớ Lãnh sự quán nằm gần Bến Thượng Hải. Cha có mối quan hệ thân thiết với Văn phòng kinh doanh của Anh và Lãnh sự quán Liên Xô. Vừa hay gia đình tôi ở trên đường Đại Danh, nên cha có thể dễ dàng mua được trà từ các thuyền viên ngay khi họ vừa ra khỏi bến tàu. Lúc đó tôi còn rất nhỏ, hoàn toàn không biết “nham trà” là gì, nhưng giờ đây hồi tưởng lại, chắc chắn tôi đã từng thưởng thức loại trà “Đại hồng bào” cực kỳ cao cấp, bởi màu đỏ của nước hồng trà loại thường khi pha ra không thật trong suốt, còn loại nham trà “Đại hồng bào” chính cống ở núi Võ Di khi pha ra có màu đỏ trong vắt rất đẹp.
1.Một loại trà đen phổ biến có nguồn gốc từ Sri Lanka – quốc gia từng có tên gọi “Ceylon”. (ND)
Để trở thành một “công chúa hạt đậu”, bạn phải chấp nhận ngủ trong căn nhà gỗ
Những lời cha dạy bảo, tôi luôn khắc cốt ghi tâm. Cha vốn rất kiệm lời, không giống như một số bậc phụ huynh luôn thao thao bất tuyệt những lời giáo huấn. Ông không bao giờ cãi vã với ai, cũng chẳng bao giờ gằn giọng mắng nhiếc tôi, nhưng mỗi lời ông nói đều là những đạo lý để đời. Tôi nhận được vô vàn lợi ích từ chúng. Giờ đây nhớ lại, tôi mới thấy cha quả thực rất kiên nhẫn, ông biết tôi không thể tiếp thu tất cả kiến thức cùng một lúc. Thế nên ông thường nói: mỗi đứa trẻ là một cái cây, không thể thành tài chỉ sau một đêm. Là người từng trải, nên từ ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, cha đã tự mình tưới tắm dòng nước trí tuệ mát lành cho tâm hồn tôi.
Cô gái chăm chỉ
Cha dạy tôi đừng mắc thói kiêu căng, học đòi công chúa, mà phải luôn chăm chỉ, cần cù. Ông nói: “Sara, con tuyệt đối không được ỷ lại vào sự chăm sóc của cha và coi đó như một thói quen, vì cha không thể ở mãi bên con được. Bất cứ lúc nào con cũng phải tự nhắc nhở chính mình: hôm nay mình là ‘công chúa hạt đậu’, ngày mai mình cũng có thể ngủ trong căn nhà gỗ, hôm nay có cha gọi mình dậy mỗi sáng, đưa đón đến trường, giúp mình sắp xếp quần áo, mình có thể ngủ thỏa thích, đến khi nào dậy thì mới lo soạn sửa, nhưng nếu ngày mai cha không thể chăm sóc mình nữa, mình vẫn có thể tận dụng thời gian để sắp sẵn đồ cho hôm sau, tự tay sắp xếp quần áo của bản thân… Chỉ có như vậy con mới có thể ‘ở đâu cũng sống được’, chỉ có như vậy thì cha mới yên tâm. Đến một ngày nào đó rời vòng tay gia đình, con mới không vấp ngã.”
Cha còn nhấn mạnh: “Sara, trong tương lai chắc chắn con sẽ có lúc sống với tập thể. Hãy nhớ giữ nết cần cù. Con phải chủ động quét dọn không gian sống quanh mình, đừng quên môi trường sống xung quanh đều thuộc về mọi người. Hãy giúp bạn bè đi lấy nước nóng, giúp người khác làm việc, và rồi con sẽ có được những mối quan hệ tốt đẹp.” Cha lo tôi không thể đối diện với sự vô thường của cuộc sống, sợ tôi sẽ biến cảnh “há miệng đút cơm, dang tay mặc áo” thành một thói xấu khó bỏ, nên ông dồn tâm dốc sức dạy dỗ chỉ vì sợ tôi lười biếng, không được mọi người quý mến. Điều mà cha sợ hơn cả là một ngày nào đó khi cha không còn trên thế gian nữa, tôi sẽ không thể tự lập, không thể có được chỗ đứng trong xã hội.
Cha đưa tôi qua đường, nhưng không đưa tôi đến trường
Đến tuổi đi học, tôi thường phải thức dậy lúc sáu rưỡi sáng. Cha sẽ chải tóc cho tôi và làm bữa sáng, thường là sữa và bánh mì. Sau đó, ông sẽ dắt tay tôi ra con đường dẫn đến trường. Nhưng cha không bao giờ đưa tôi đến cổng trường. Ông sẽ đưa tôi qua các con phố mà tôi buộc phải qua đường hoặc dẫn tôi qua các ngã tư, bởi cha nghĩ tôi vẫn còn nhỏ, sẽ nguy hiểm nếu tự băng qua đường. Thông thường, các bậc phụ huynh sẽ tự mình hoặc thuê xe đưa con đến tận cổng trường, nhưng cha không làm vậy, ông chỉ đưa tôi sang bên kia đường rồi để tôi tự đi bộ đến trường.
“Xuân tằm đáo tử tơ phương tận”1 – Tình yêu thương của cha như đại dương bao la
1. Một câu thơ trong bài Vô đề (tương kiến thời nan biệc diệc nan) của Lý Thương Ẩn, nhà thơ Trung Quốc, thời Đường. Tạm dịch: Con tằm đến chết vẫn còn vương tơ. (ND)
Nhìn lại quãng thời gian ngắn ngủi sống cùng cha trước năm 12 tuổi, tôi mới nhận ra rằng dù tôi bao nhiêu tuổi, cha vẫn luôn dạy cho tôi đạo lý làm người. Trừ khi tôi phạm lỗi lầm nhưng kịp thời sửa sai, còn thì mỗi ngày cha sẽ kể chuyện cho tôi nghe trước khi đi ngủ. Bây giờ tôi mới hiểu, cha nghĩ mình không có nhiều thời gian nên luôn tận dụng mọi lúc mọi nơi để nói với tôi tất cả những điều mà ông nghĩ rằng sẽ có ích với tôi trong tương lai. Sau khi xảy ra những vấn đề hoặc chuyện nhỏ nào đó trong cuộc sống, cha sẽ nói cho tôi một triết lý, và những triết lý đó đã đồng hành, giúp ích cho tôi trong suốt cuộc đời. Ngay cả khi gần đến thời khắc cuối cùng của cuộc đời mình, ông vẫn nỗ lực thực hiện công việc này: truyền thụ cho tôi tất cả những điều mà ông có thể dạy, hy vọng tôi có thể tự bảo vệ bản thân, làm chỗ dựa cho chính mình và sống trọn một đời an yên.
Cha dự liệu rằng ông sẽ không thể lúc nào cũng ở bên cạnh bảo vệ tôi, thế nên ông không cho tôi đi bơi vì biết rằng tôi rất dễ bị chuột rút. Ban đầu tôi tưởng ông nghĩ rằng đồ bơi sẽ để lộ quá nhiều da thịt, sau này mới biết ông sợ tôi bị chuột rút rồi chết đuối nên mới cấm đoán. Để trong tương lai con gái mình không phải gặp quá nhiều nguy hiểm, người cha già của tôi đã liên tục dạy bảo những triết lý vượt quá tầm nhận thức của tôi khi đó. Đây chính là trí tuệ của người Do Thái, là cách giáo dục gia đình của người Do Thái. Phàm là những quốc gia có nền văn hóa lâu đời đều có cách giáo dục gia đình như vậy. Ông tựa như loài tằm kén mùa xuân, nhả đến cạn kiệt thứ tơ đong đầy tình yêu thương cho con gái. Tình cha tựa sóng nước đại dương, khiến tôi mỗi lần nhớ đến lại hoen ướt bờ mi.
Vì tôi thường bị chuột rút, nên cha đã nhờ người quen ở Liên Xô mua cho tôi một đôi giày có lớp lót bông bên trong và kích cỡ khá lớn. Cha nói với tôi: “Bây giờ con vẫn còn nhỏ, cha nhờ người mua một đôi giày để con có thể đi rất lâu, sau này khi lên đại học, đến mùa đông, con hãy đi đôi giày đó nhé, vì ngồi trong phòng học và thư viện sẽ rất lạnh, chân con lại dễ bị chuột rút, phải ăn mặc ấm áp một chút…” Hồi tưởng lại vẻ mặt của cha khi nói những lời này, tôi chợt ứa nước mắt.
Đôi giày cao cổ ấm áp đó giờ không còn nữa, nhưng tình yêu thương vô bờ bến của cha vẫn khiến tôi ấm lòng đến tận hôm nay. Tình yêu của cha – người đàn ông phải kiêm luôn vai trò làm mẹ – luôn vẹn tròn, chu đáo đến như vậy, thế nên mỗi lần chân bị chuột rút, tôi lại nhớ cha da diết, và nhớ cả đôi giày tượng trưng cho tình yêu thương của cha nữa.
Chuột rút dường như là tật bệnh truyền thống của gia đình. Tôi thi thoảng bị chuột rút, các cháu trai cháu gái của tôi đứa nào cũng bị chuột rút, thế nên chỉ cần bản thân bị chuột rút hoặc nghe thấy các cháu bị chuột rút là tôi lại lập tức nghĩ đến cha mình.
Theo tôi được biết, cha chỉ có duy nhất một người con là tôi. Tôi kế thừa nhiều tính cách đặc biệt của cha: cẩn trọng, không bao giờ gây phiền hà cho người khác… Mỗi lần gặp khó khăn là tôi liền nghĩ: Nếu là cha thì cha sẽ nói gì nhỉ? Ông sẽ chỉ cho mình cách làm như thế nào?… Chính vì luôn làm theo sự chỉ dạy của cha nên dẫu trải qua nhiều gian khó, nhưng tôi lúc nào cũng xoay xở ổn thỏa. Những lời chỉ dạy của cha đã đem tới phù sa cho vùng thổ nhưỡng mang tên cuộc đời của tôi, giúp tôi hấp thụ để trưởng thành. Mỗi lời dạy bảo của ông đều là lời vàng ý ngọc! Tôi thường nghĩ: Nếu như cha không áp dụng cách nuôi dạy đặc biệt như vậy và tôi không được tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa Do Thái, chắc chắn tôi sẽ không sinh ra được ba người con ưu tú như thế, cũng sẽ chẳng có được trải nghiệm cuộc sống độc đáo đến vậy.
Tình yêu thương của cha là một dạng trí tuệ. Sinh tôi ra năm 60 tuổi, 72 tuổi rời khỏi cõi trần – trí tuệ của cha tôi, ông Livi Imas, chính là tài sản quý giá nhất, và cũng là di sản quý giá nhất trong cuộc đời tôi.