Vòng Xoáy Đi Lên

Lời giới thiệu cho bản tiếng Việt

Lời giới thiệu cho bản tiếng Việt

Tôi đọc Vòng xoáy đi lên: Đảo chiều trầm cảm từ những thay đổi nhỏ của tiến sĩ thần kinh học Alex Korb vào năm 2015 lúc cuốn sách mới được phát hành. Từ năm 2012 đến 2018, tôi hướng dẫn một chương trình chánh niệm cho các chuyên gia y tế và xã hội tại Trung tâm Sức khỏe Ứng xử, Đại học Hồng Kông. Với đối tượng là những nhà khoa học, tôi đã nghiên cứu về khoa học thần kinh, tế bào học, sinh học và tâm lý học Tây phương để có thể dùng ngôn ngữ khoa học trong việc truyền đạt chủ đề chánh niệm đến với họ. Đây là một trong những cuốn sách đã giúp tôi trong nỗ lực đó. Nay sách được dịch ra tiếng Việt, tôi mạo muội viết một vài lời chia sẻ những điều tôi đã học và áp dụng trong việc phối hợp khoa học thần kinh với chánh niệm và ngành tâm lý trị liệu Phật giáo trong việc chữa trị trầm cảm nói riêng, và các bệnh tâm thần nói chung.

Cuốn sách tự nó đã trình bày những kiến thức khoa học cần thiết và những phương pháp chữa trị mà người đọc có thể nhận thấy rằng trầm cảm thật gần gũi, bình thường và cũng không đáng sợ như thường nghe nói đến. Người đọc có thể cảm thấy đôi khi mình cũng có những trạng thái lo âu, sợ hãi, tuyệt vọng những nguyên nhân có thể dẫn đến trầm cảm) như tác giả trình bày trong cuốn sách. Một điều sẽ làm cho người đọc thấy vui là đa số những trạng thái tiêu cực đó có thể chữa trị được bằng những hoạt động và suy nghĩ tích cực trong đời sống hằng ngày. Không phải ai bị trầm cảm cũng dẫn đến tự tử. Đó chỉ là những trường hợp rất nặng. Đa số là có thể thoát ra khi được chữa trị đúng cách. Chữa bệnh trầm cảm thì cần có sự kết hợp phù hợp giữa việc dùng thuốc và các phương pháp không dùng thuốc, trong đó có các phương pháp của tâm lý trị liệu và của ngành y học thân tâm – một ngành chữa trị mới của y học Tây phương. Những điều tôi chia sẻ đây là một cái nhìn tổng thể về các phương pháp không dùng thuốc, mà cuốn sách đề cập đến khá nhiều.

Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa sức khỏe toàn diện của con người là sự hoàn chỉnh về sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội. Phúc lợi (well-being) không chỉ là sự vắng mặt của bệnh tật. Việc chữa thân bệnh của y học Tây phương được tập trung vào ba lĩnh vực: (1) thuốc, (2) giải phẫu và (3) y học thân tâm. Chữa bệnh bằng thuốc và giải phẫu thì đã có từ lâu. Chữa bệnh thân qua phương pháp y học thân tâm thì mới được bắt đầu vào khoảng đầu thập niên 1970, qua sự khám phá về hiện tượng phản hồi thư giãn của bác sĩ Herbert Benson tại Đại học Harvard. Bác sĩ Benson sau đó đã thành lập Viện Y học Thân tâm để bổ túc cho phương pháp trị bệnh bằng thuốc và giải phẫu. Khoa học thần kinh cho biết những điều mà ta gọi là tâm có nguồn gốc từ những yếu tố của thân. Có thể nói tâm là những biểu hiện trạng thái của thân. Chỉ cần mất ngủ mấy đêm thì những trạng thái mệt mỏi của thân được biểu hiện qua những trạng thái bức xúc, bồn chồn, lo âu của tâm rồi. Cho nên tâm lý trị liệu cũng là chữa cho thân, và thuốc uống, giải phẫu để chữa cho thân cũng là chữa cho tâm.

Trong Tâm lý học Phật giáo, thân và tâm là hai phương diện của một thực thể gọi là con người. Thực thể này luôn thay đổi (vô thường) và dựa vào những yếu tố trong và ngoài nó (vô ngã) để có mặt, tồn tại và phát triển. Những gì xảy ra cho tâm thì cũng ảnh hưởng đến thân và ngược lại. Kinh điển Phật giáo có ghi lại câu chuyện một vị tỳ kheo vì ghen tị quá mức mà cơ thể mọc lên những mụn nhọt rồi chết. Tâm lý học Tây phương cũng có ghi lại câu chuyện của một người đàn ông, tính tình rất hiền lành. Nhưng vì có một cục u trong não đè lên hạch hạnh nhân mà làm cho anh ta trở nên có tính khí bất thường và nhiều khi có dấu hiệu cực kỳ hung ác. Cho đến một hôm, anh ta cầm súng giết mẹ, vợ và làm bị thương hơn hai chục người khác, sau đó anh ta tự sát. Cuốn sách này đã đưa ra nhiều minh họa nói rõ sự liên hệ giữa thân với tâm.

Trầm cảm theo định nghĩa là một trạng thái tinh thần “thất vọng, ủ ê, buồn rầu chẳng mong muốn gì” Trạng thái thất vọng này là do đắm chìm trong cảm xúc tiêu cực không thoát ra được. Cảm xúc ở đây được hiểu là trạng thái của tâm khi tiếp xúc với các thay đổi trong cơ thể và trong môi trường sống. Có các sự vật khi tiếp xúc thì đem đến niềm vui, nhưng cũng có các sự vật khi tiếp xúc thì đem đến nỗi buồn. Trong Phật giáo có một thực tập gọi là Tứ Chánh Cần, trong đó người thực tập được hướng dẫn làm những điều sau:(1) nếu hạt giống tiêu cực trong tàng thức chưa biểu hiện trên ý thức, thì tạo điều kiện để đừng cho nó biểu hiện; (2) nếu hạt giống tiêu cực đã biểu hiện trên ý thức, thì tạo điều kiện để đem nó xuống tầng thức; (3) nếu hạt giống tích cực chưa biểu hiện trên ý thức, thì tạo điều kiện để cho nó biểu hiện; và (4) nếu hạt giống tích cực đã biểu hiện trên ý thức, thì tạo điều kiện để giữ nó trên ý thức. Tứ Chánh Cần có thể được sử dụng như một phương pháp giúp người trầm cảm thoát khỏi vòng xoáy của cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực. Tàng thức ở đây được hiểu là vô thức theo quan điểm của tâm lý học Tây phương.

Nói theo kiểu thông thường, trầm cảm là một căn bệnh, nhưng nó có là một bệnh thông thường” hay không? Ví dụ như bệnh lao là do vi trùng Koch gây ra, uống thuốc diệt vi trùng Koch thì hết bệnh lao. Bệnh trầm cảm thường được chẩn đoán là do thiếu chất dẫn truyền thần kinh serotonin. Cho nên thuốc trị bệnh trầm cảm thường có tác dụng làm tăng chất serotonin. Đa số bệnh nhân khi mới uống thuốc này thì có cảm thấy khá hơn sau khoảng hai tuần đến một tháng. Nhưng nếu bị nặng thì trầm cảm vẫn tiếp tục mặc dù số lượng serotonin đã đầy đủ. Uống thuốc hoài thì có thể dẫn đến sự phụ thuộc vào thuốc. Ngoài ra, thuốc cũng có những phản ứng phụ. Cho nên, khuynh hướng chữa bệnh trầm cảm bây giờ thường được bổ sung thêm nhiều về việc chữa bằng tâm lý trị liệu và y học thân tâm bên cạnh việc dùng thuốc. Có lần tôi nói “trầm cảm không phải là một bệnh” để nhấn mạnh đến việc đừng tập trung nhiều quá vào việc chỉ dùng thuốc để chữa trầm cảm. Cho đến bây giờ, chưa có thuốc uống nào có thể chữa hết trầm cảm. Đa số các thuốc trầm cảm có tác dụng trị các triệu chứng ở phần ngọn do sự không cân bằng sinh học tạo nên. Cần để ý đến những yếu tố phần tâm như là ứng xử, nhận thức, tâm tư thầm kín và giá trị cuộc sống để chữa phần gốc.

Thời của đức Phật, một bà mẹ trẻ có một bé trai bị chết. Bà xuất thân từ một gia đình nghèo khó, lấy chồng thuộc về một gia đình giàu có. Khi sinh con trai, bà mẹ được nhà chồng thương yêu nhiều hơn. Vì chưa bao giờ tiếp xúc với cái chết và ảnh hưởng của nó, bà mẹ trở nên điên dại. Đi đâu cũng đem xác con mình theo và xin làm cho bé trai được sống lại. Đến xin Phật, Phật nói là sẽ làm cho đứa bé sống lại nếu bà mẹ đi từng nhà trong một ngôi làng và xin một hạt cải đem về nếu nhà đó không có người chết. Dĩ nhiên là nhà nào cũng có người chết cả. Dựa vào đó, Phật nói rằng sống chết là lẽ vô thường của cuộc sống và cần phải chấp nhận nó. Nhờ đó mà bà mẹ khỏi bệnh. Một điều đáng chú ý là khi con trai mất thì lý do để được nhà chồng trọng đại hơn không còn, bà mẹ trẻ trở lại địa vị bình thường như trước. Cho nên, có thể là sự khổ đau vì đã mất đi một môi trường an toàn và tiện nghi khi con mình còn sống cộng thêm sự mất mát của đứa con làm cho bà mẹ trở nên điên dại. Những khổ đau, lo sợ thầm kín đó là những hạt giống tiêu cực nằm trong tàng thức của mỗi chúng ta. Biết, hiểu và chuyển hóa được những khổ đau và lo sợ thầm kín đó thì chữa được phần gốc của trầm cảm.

Cuốn sách nói về những phương pháp để cơ thể tự sản xuất serotonin và chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng đem đến an vui như oxytocin mà không cần phải dùng thuốc. Ví dụ như tập thể dục, thực tập hơi thở chánh niệm, mát-xa, bày tỏ lòng biết ơn, quyết định để làm một việc gì đó, đừng tập trung vào những điều tiêu cực, tiếp xúc với những cái đẹp, suy nghĩ về những điều tích cực, chăm sóc cho nhau, vv.. Những điều chúng ta làm hằng ngày theo hướng tích cực sẽ giúp nhiều trong việc chữa trị trầm cảm.

Phương pháp phản hồi thư giãn để trị bệnh dựa trên thiền định có khả năng làm giảm sự trao đổi chất, nhịp thở, nhịp tim và hoạt động của não. Năm 1979, tiến sĩ Jon Kabat-Zinn thiết lập chương trình Giảm căng thẳng dựa trên chánh niệm (MBSR). Năm 1991, các nhà tâm lý trị liệu Teasdale, Segal và Williams đưa ra liệu pháp Nhận thức Dựa trên Chánh niệm (MBCT) để ngăn ngừa sự tái phát trầm cảm. Tất cả các phương pháp này đều có nguồn gốc từ Kinh Quán niệm Hơi thở mà đức Phật đã thực tập và hướng dẫn cách đây khoảng 2.500 năm. Vào đầu thập niên 1970, Thiền sư Thích Nhất Hạnh viết cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức để hướng dẫn cách thực tập Kinh Quán niệm Hơi thở và áp dụng nó vào phương pháp trị liệu. Từ cuốn sách đó cùng với những chương trình giảng dạy và tu học chánh niệm, Thiền sư được xem là cha đẻ của chánh niệm hiện đại. Bác sĩ Herbert Benson đã ghi nhận Thiền sư là một nhà tiên phong trong lĩnh vực Y học Thân tâm khi đề nghị tặng giải thưởng Y học Thân tâm đầu tiên cho Thiền sư vào năm 2000.

Tâm lý học Tây phương có năm quan điểm chính: (1) tâm lý sinh học, (2) tâm lý ứng xử, (3) tâm lý nhận thức, (4) tâm động học, và (5) tâm lý nhân văn. Một giới hạn của tâm lý học Tây phương là các quan điểm này thường được tách rời khỏi nhau, mỗi ngành có những lý thuyết riêng mà không kết nối chúng với nhau. Tâm lý học Phật giáo – mà cụ thể là Duy Biểu Học – thì không chia ra như vậy. Nó kết hợp tất cả các quan điểm trên. Trong cuốn Duy Biểu Học - Cách vận hành của Tâm, Thiền sư Nhất Hạnh viết “Trong những khóa tu tôi hướng dẫn cho các nhà tâm lý trị liệu, chúng tôi thực tập hơi thở chánh niệm, ngồi thiền, đi thiền, nhận diện và ôm ấp khổ đau, những thực tập này trở thành một phần của cuộc sống. Đây là những cống hiến tốt nhất mà Phật giáo có thể cống hiến cho tâm lý trị liệu Tây phương” và “chắc chắn là Tâm Lý Học Phật Giáo sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến Tâm Lý Học Tây phương. Những phương pháp tâm lý trị liệu sẽ từ từ được ảnh hưởng sâu sắc bởi Duy Biểu Học”. Đóng góp của Duy Biểu Học trong tâm lý trị liệu là giúp cho ý thức có một nhận thức rõ ràng về thực tại của các hiện tượng sinh lý, vật lý và tâm lý trong cuộc sống. Những hiện tượng đó đều có tính chất vô thường, vô ngã và bất nhị. Áp dụng những cái thấy đó trong đời sống thì sẽ giúp chuyển hóa được khổ đau và phiền muộn.

Khi mới khởi đầu đem chánh niệm vào lĩnh vực y khoa ở Tây phương, các nhà khoa học trên đã không đem các lý thuyết và thực tập Phật giáo như là Tứ Diệu đế, Bát Chánh đạo, Vô thường, Vô ngã, Bất nhị, Năm phép thực tập chánh niệm, vv. vào trong các tài liệu giảng dạy và thực tập của các chương trình của mình vì lo ngại bị phản ứng. Nếu có, thì họ cũng cắt giảm đi nhiều. Đến nay, sau hơn 40 năm, việc nói rõ nguồn gốc Phật giáo đã không còn là một chướng ngại vì các phương pháp chánh niệm đó đã được Y học Tây phương chấp nhận là phương pháp trị liệu bổ túc. Từ đầu thập niên 2010, có lời kêu gọi của các nhà nghiên cứu là cần đem các giáo lý nguyên gốc của Phật giáo vào lĩnh vực này. Trước khi xuất gia, tôi là một kỹ sư điện tử chuyên về nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Sau khi xuất gia, được học và thực tập sâu sắc hơn với các thực tập chánh niệm và tâm lý học Phật giáo, tôi nhận thấy là khoa học có thể giúp tiếp cận các giáo lý và phương pháp thực tập Phật giáo rõ ràng và có hệ thống hơn. Năm 2013, Thiền sư Nhất Hạnh đã đề nghị kết hợp thần kinh học, sinh học, vật lý học Tây phương với các ngành tâm lý học Đông phương khi học về Duy Biểu Học.

Dưới sự cố vấn của Thiền sư Nhất Hạnh từ năm 2012 đến 2014, tại Hồng Kông, tôi đã thiết lập một chương trình Sức khỏe Thân tâm có tên là Niệm Sinh An Lạc: Nếp sống An Lành. Tên tiếng Anh là Mindfulness Born Peace and Happiness (MBPH): A Way of Well-being. Tôi đã đem vào những điều dạy thiết yếu của chánh niệm và Duy Biểu Học vào chương trình này. Có thể gọi đây là chương trình Tâm lý Trị Liệu Phật giáo dùng tài liệu gốc (nguyên thủy). Tại Hồng Kông năm 2016, chúng tôi đã thiết lập Trung tâm Sức khỏe Thân tâm Thở và Cười do các chuyên gia tâm lý trị liệu điều hành để đem lĩnh vực này đến quần chúng và vào việc trị liệu tâm lý lâm sàng. Đối với tôi, Phật giáo trước hết là một lối sống. Những người không theo Phật giáo cũng có thể áp dụng lối sống đó được. Điều quan trọng là những điều mà tôi học và thực tập giúp tôi nuôi dưỡng hạnh phúc, chuyển hóa khổ đau và sống đời an lành.

Tại Việt Nam hiện nay, số lượng người bị trầm cảm và các bệnh tâm thần ngày càng nhiều. Đây một phần là cũng do lối sống nhanh và đầy áp lực của xã hội hiện đại làm cho con người trở nên lo âu, sợ hãi và căng thẳng nhiều hơn. Một phần nữa là có thể trước đó cũng có nhiều người bị rồi, nhưng nay với phương pháp chẩn bệnh và xã hội cởi mở hơn, cho nên việc bị chẩn đoán là có bệnh tâm thần cũng không tạo nên nhiều sự e ngại. Bệnh tâm cũng giống như bệnh thận, có bệnh thì chữa. Đa số bệnh tật của thời đại hiện giờ là bệnh của lối sống không lành mạnh. Ngày xưa ông bà ta làm việc và sinh hoạt ở ngoài trời nhiều nên cơ thể khỏe mạnh. Bây giờ ít hoạt động, đi bộ 3.000 bước (khoảng một cây số) một ngày mà đã cảm thấy là một cố gắng lớn. Cho nên bị bệnh là điều dễ hiểu. Mà bệnh thân thì sẽ dẫn đến bệnh tâm.

Trong mấy năm qua, tôi có dịp tiếp xúc với một số bác sĩ tâm trí và các nhà tâm lý trị liệu tại Việt Nam. Chúng tôi có trao đổi về những phương pháp tâm lý trị liệu hiện đại mà Tây phương đang nghiên cứu, phát triển và áp dụng. Các phương pháp chánh niệm Tây phương đang dùng- có nguồn gốc từ Phật giáo và được thiền sư Nhất Hạnh giới thiệu trở lại trong thời hiện đại – đã tạo cho các chuyên gia Việt Nam một niềm tin và một sự gần gũi. Vì ít nhiều các thực tập đó không xa lạ với họ và họ cũng đã ít nhiều nếm được hiệu quả của việc thực tập chúng trong đời sống tâm linh của mình. Tôi thấy có sự kết hợp kỳ diệu giữa nền khoa học Tây phương và nếp sống tâm linh Đông phương trong lĩnh vực này. Việt Nam có một truyền thống tâm linh lâu dài, tôi hy vọng là những nếp sống như “thương người như thương thân”, “lắng nghe để hiểu, nhìn kỹ để thương” - trong đó chứa đựng trí tuệ và từ bi – sẽ góp phần chữa trị những căn bệnh tâm thần của thời đại.

Thực tập chánh niệm Ái ngữ và Lắng nghe có hướng dẫn như sau:

Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm và thiếu khả năng lắng nghe gây ra, con nguyện học hạnh Ái ngữ và Lắng nghe để có thể hiến tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt nỗi khổ đau của người. Con nguyện không nói gì khi cơn giận đang có mặt trong con. Con nguyện tập thở và đi trong chánh niệm để nhìn sâu vào gốc rễ của cơn giận ấy, để nhận diện những tri giác sai lầm trong con và tìm cách hiểu được những khổ đau trong con và trong người mà con đang giận. Con nguyện học nói sự thật và lắng nghe sâu để có thể giúp người kia thay đổi và vượt thoát những khó khăn đang gặp phải.

Khoa học Tây phương và tâm linh Đông phương gặp nhau ở đây. Cơ thể ta luôn có ba loại năng lượng tinh (tình dục), khí (hơi thở) và thần (tinh thần) hiện diện theo tỉ lệ khác nhau trong bất cứ thời điểm nào. Khi giận thì hệ thống thần kinh giao cảm được kích hoạt, làm cho tim đập nhiều hơn, thở nhanh và cạn hơn, các mạch máu nở ra rộng hơn. Ta đang ở trong trạng thái “chiến hay chạy”. Tập thở và đi trong chánh niệm làm chậm hơi thở, nhịp tim, kích hoạt hệ thống thần kinh đối giao cảm giúp cho ta có bình an trở lại. Hơi thở chánh niệm tạo nên năng lượng khí có tính chất trung hòa, có thể chuyển hóa những năng lượng tình dục và tinh thần tiêu cực. Thực tập chánh niệm trên giúp chữa cả phần ngọn (các trạng thái sinh học của thân) và phần gốc (các nguyên nhân) của cơn giận.

Phương pháp ứng xử trên cũng có thể áp dụng khi ta có nỗi buồn lo, sợ hãi hay tuyệt vọng. Một đàn trâu đi ngang qua một hồ nước trong, bùn nổi lên làm cho nước hồ đục ngầu, ta không nhìn thấy đáy. Đợi một thời gian cho bùn lắng xuống thì nước trong trở lại, không cần cố gắng gì cả thì ta cũng sẽ nhìn thấy đáy. Trong lúc nước đục mà cố gắng nhìn thấy đáy thì vô ích. Khi tâm ta đầy những lo âu, sợ hãi, hay bức xúc thì cũng không thấy rõ. Những lo âu sợ hãi đó như là bùn trong hồ vậy. Quay về với hơi thở, đi thiền hành sẽ giúp những tâm hành tiêu cực đó lắng xuống. Sau đó thì ta sẽ nhìn sâu vào những lý do vì sao mà những nỗi lo âu sợ hãi đó nổi lên. Ta không cần phải cố gắng nhiều để quán chiếu vì lúc đó tâm ta đã yên. Quan trọng là đừng làm gì khi ta đang lo âu, sợ hãi hay tức giận. Vì không biết điều trị cảm xúc nhất thời mà một số người đã tự tử. Hơi thở chánh niệm có thể cứu mạng trong những lúc đó. Trong 11 năm, một ông cụ ở Nhật Bản đã thuyết phục hơn 500 người đừng nhảy xuống biển tự tử bằng cách giúp họ vượt qua những khó khăn nhất thời.

Tôi xin giới thiệu cuốn sách này đến bạn đọc. Hy vọng là quý độc giả có những giây phút đọc sách thích thú và có thể áp dụng những phương pháp chuyển hóa các tâm hành tiêu cực được đề cập đến trong cuốn sách vào đời sống hằng ngày của mình.

Thích Chân Pháp KhâmGiáo thọ và Viện trưởngViện Phật học Ứng dụng Châu Á, Hồng Kông(Thầy Thích Chân Pháp Khâm là đệ tử xuất gia của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 1

Đang tải bình luận...