phần vấn đề của chúng ta có thể chỉ đơn giản là cách chúng ta xử lý những suy nghĩ của mình. Tư duy nhanh và chậm Năm 1929, họa sĩ người Bỉ René Magritte đã tạo ra cú hích trong giới nghệ thuật thị giác bằng bức tranh The Treachery of Images (tạm dịch: Sự phản bội của hình ảnh). Có thể bạn đã từng xem qua bức tranh đó rồi. Đó là bức tranh vẽ một cái tẩu thuốc, ngay bên dưới là dòng chữ nổi tiếng “Ceci n’est pas une pipe” (Đây không phải là chiếc tẩu thuốc). Thoạt tiên, bạn có thể nghĩ họa sĩ này chỉ đơn giản là người theo trường phái siêu thực và muốn kích động người xem bằng sự phi lý. Nhưng trên thực tế, bức tranh của René Magritte hàm chứa một cảnh báo quan trọng về cách chúng ta xử lý thông tin và cho thấy lối hoạt động đi ngang về tắt của tâm trí đôi khi có thể khiến chúng ta vội vã đưa ra kết luận sai lầm hoặc mắc kẹt trong những lối mòn nhận thức tai hại. Những gì chúng ta nhìn thấy khi quan sát bức tranh The Treachery of Images là những vệt màu dầu được vẽ trên nền vải theo cách làm cho chúng ta nghĩ đến một chiếc tẩu thuốc. Và Magritte hoàn toàn đúng: đó không phải là một chiếc tẩu thuốc. Đó chỉ là hình ảnh hai chiều đại diện cho ý tưởng của chúng ta về một chiếc tẩu thuốc, và cách duy nhất bạn có thể “đốt” nó là xé nó ra khỏi bức tranh và nhét nó vào một chiếc tẩu thật. Bằng cách riêng của mình, Magritte nói với chúng ta rằng hình ảnh của một sự vật không phải là sự vật đó trong thực tế, hoặc nói như triết gia Alfred Korzybski: “Bản đồ lãnh thổ không phải là lãnh thổ”. Con người thích tạo ra các phạm trù trong tâm trí và sau đó xếp các sự vật, hiện tượng, trải nghiệm và thậm chí cả con người vào các phạm trù phù hợp. Nếu một thứ gì đó không phù hợp với phạm trù có sẵn, nó sẽ được liệt vào nhóm “những thứ không phù hợp”. Việc phân loại như vậy có thể hữu ích, chẳng hạn như khi bạn phân loại cổ phiếu vào nhóm rủi ro cao hoặc rủi ro thấp để có thể dễ dàng lựa chọn kênh đầu tư phù hợp với mục tiêu tài chính của mình. Tuy nhiên, khi trở nên quá thoải mái và quen với những phạm trù cứng nhắc có sẵn trong tâm trí, chúng ta đang sử dụng thứ mà các nhà tâm lý học gọi là sự kết luận vội vàng, tức là một cách phản ứng theo thói quen và không linh hoạt với những ý tưởng, sự vật, con người và thậm chí với chính bản thân mình. Những phạm trù quen thuộc và có sẵn này, cùng với những nhận định chớp nhoáng mà chúng dẫn đến, thường được gọi là nguyên tắc quyết định dựa vào kinh nghiệm. Các quyết định dựa theo kinh nghiệm này có phạm vi khá rộng, từ những điều cấm kỵ hợp lý như “Tôi không ăn các món ăn vặt của các quán cà phê ngoài trời ở Istanbul vào tháng Tám” đến những niềm tin mù quáng đầy độc hại như phân biệt
24 chủng tộc hoặc thành kiến giai cấp, hoặc những sự tự giới hạn bản thân khiến chúng ta mất đi nhiều niềm vui, chẳng hạn như “Tôi không hát”. Cũng như khuynh hướng để lẫn suy nghĩ với cảm xúc, khuynh hướng xếp những gì mình nhìn thấy vào “những chiếc hộp” có sẵn trong tâm trí để dễ dàng phân loại - và sau đó là để đưa ra những quyết định nhanh chóng dựa vào trực giác - phát triển là có lý do. Cuộc sống dễ dàng hơn nhiều khi chúng ta không phải phân tích mọi lựa chọn. (Hãy nghĩ tới những nhà hàng hạng sang, nơi các nhân viên phục vụ cứ đặt ra cho bạn những câu hỏi ngày càng chi tiết hơn về yêu cầu đặt món của bạn cho đến khi bạn muốn hét lên: “Cứ mang món xà lách trộn đó ra đây cho tôi là được! Rưới đại xốt mayonnaise lên là được! Sao cũng được!”) Tất cả chúng ta sẽ bị kẹt cứng trong sự tê liệt nếu phân tích vấn đề mà không có các quy tắc dựa vào kinh nghiệm riêng của mình, vì chính những quy tắc này giúp chúng ta hoàn thành các hoạt động thông thường mà không cần phải tiêu hao quá nhiều năng lượng tâm trí. Kinh nghiệm được vận dụng khi chúng ta gặp ai đó và lập tức bắt đầu xác định mình muốn tìm hiểu thêm hay muốn tránh xa người này. Sau đó, chúng ta phát hiện hóa ra mình rất giỏi “trông mặt bắt hình dong”. Những đánh giá không có nhiều căn cứ mà chúng ta đưa ra chỉ sau vài giây ngắn ngủi này lại thường khá chuẩn xác. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những ấn tượng đầu tiên của chúng ta về một người xa lạ thường giống với đánh giá mà bạn bè và gia đình của người đó đưa ra về tính cách của họ. Cách nay hàng ngàn năm, nhờ có khả năng đánh giá nhanh những người xa lạ mà con người có thể xây dựng các mối quan hệ đáng tin cậy bên ngoài phạm vi quan hệ máu mủ. Từ đó mới có sự phát triển của các làng xã, thị trấn và xã hội - nói cách khác, chính là sự hình thành các nền văn minh. Nếu không có khả năng phán đoán dựa vào kinh nghiệm (“Anh chàng này bắt tay dứt khoát, nụ cười cũng đẹp - có vẻ là một chàng trai tốt”) và phải phân tích lại mọi biểu cảm, từng câu đối thoại và tất cả các thông tin khác mỗi khi gặp gỡ người khác thì hẳn là chúng ta sẽ không còn thời gian để sống và tận hưởng cuộc đời mình. Tuy nhiên, thật không may là những đánh giá mà chúng ta đưa ra chớp nhoáng có thể sai. Ấn tượng đầu tiên mà chúng ta có về con người hoặc sự vật có thể được hình thành dựa trên những khuôn mẫu thiếu chính xác, hoặc có thể bị thao túng bởi những kẻ lừa bịp chuyên nghiệp. Và một khi những ấn tượng hay đánh giá này đã được thiết lập, chúng ta rất khó xem xét lại và thay đổi chúng. Khi đưa ra những nhận định quá nhanh, chúng ta thường sẽ coi trọng các thông tin có sẵn và xem nhẹ những yếu tố nhỏ nhưng tinh tế mà mình phải cần nhiều thời gian mới nhận ra. Trong tác phẩm Thinking Fast and Slow (tạm dịch: Tư duy nhanh và chậm), nhà tâm lý học Daniel Kahneman đã mô tả hai chế độ tư duy cơ bản của tâm trí
25 con người. Chế độ tư duy thứ nhất được gọi là Hệ thống 1, chuyên tạo ra những suy nghĩ nhanh chóng, tự động, không tốn nhiều công sức, có tính liên kết và tiềm ẩn - nghĩa là chúng không hiển hiện rõ ràng để chúng ta lập tức xem xét. Những suy nghĩ của Hệ thống 1 thường mang theo nhiều cảm xúc, bị chi phối bởi thói quen và chính vì vậy rất dễ khiến chúng ta bị mắc câu. Chế độ tư duy thứ hai, hay còn gọi là Hệ thống 2, suy nghĩ chậm hơn và thận trọng hơn. Những suy nghĩ này đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn và mức độ chú ý sâu sắc hơn. Chúng cũng linh hoạt hơn và tuân thủ các quy tắc mà chúng ta đã có ý thức thiết lập. Chính những hoạt động của Hệ thống 2 này sẽ giúp chúng ta tạo ra không gian giữa tác nhân kích thích và phản ứng mà Viktor Frankl đã đề cập đến, một không gian để chúng ta thể hiện trọn vẹn bản chất con người và phát huy tối đa tiềm năng của mình. Tôi nhớ mình từng xem cuộc trò chuyện giữa người dẫn chương trình truyền hình Bill O’Reilly và diễn viên hài David Letterman. Người dẫn chương trình đặt ra một câu hỏi và bắt đầu nói đùa với diễn viên hài: “Đây là một câu hỏi dễ ợt!”. David đáp: “Đối với tôi thì không dễ, vì tôi luôn suy nghĩ thấu đáo”. Ông đã nhận được một tràng pháo tay cho câu trả lời này. Như tôi đã đề cập ở trên, lối tư duy nhanh và dựa theo trực giác của Hệ thống 1 đôi khi có thể hiệu quả và chính xác. Tiến sĩ Gerd Gigerenzer - viện trưởng Viện Phát triển Con người Max Planck tại Berlin, nước Đức và có công trình nghiên cứu khoa học được nhắc đến trong quyển sách Blink (tạm dịch: Chớp mắt) của Malcolm Gladwell - là một nhà tâm lý học xã hội nổi tiếng với những nghiên cứu về tư duy theo trực giác. Ông mô tả các “phản ứng cảm tính” này như một điều gì đó bí ẩn, bí ẩn ngay cả với người tạo ra chúng. Tất cả những gì chúng ta biết là các phản ứng cảm tính này được hình thành dựa trên những gợi ý đơn giản trong môi trường xung quanh, đồng thời lọc bỏ những thông tin khác mà hoàn cảnh hoặc kinh nghiệm sống của chúng ta (hoặc sự quên lãng, hoặc thói quen) cho là không cần thiết. Một số phản ứng theo trực giác có được là nhờ được rèn luyện qua thời gian. Chẳng hạn như một bậc thầy cờ vua có thể nhìn lướt qua ván cờ mà người khác đang chơi và đoán được đến mười mấy nước cờ tiếp theo, hoặc các y tá khoa tim mạch có thể phát hiện từ sớm những bệnh nhân có nguy cơ lên cơn đau tim, hoặc một người lính cứu hỏa biết chính xác thời điểm nào cần di tản người dân. Tuy vậy, các phản ứng theo trực giác của Hệ thống 1 cũng có mặt trái. Khi những nhận định dựa vào kinh nghiệm bắt đầu chi phối cách chúng ta xử lý thông tin và hành xử, sẽ có lúc chúng ta áp dụng nguyên tắc quyết định dựa trên kinh nghiệm theo những cách không phù hợp, từ đó làm giảm khả năng phát hiện những khác biệt bất thường hoặc các cơ hội mới. Chúng ta mất đi sự linh hoạt. Khi đắm chìm trong một bộ phim, một khán giả bình thường có thể bỏ lỡ những “hạt sạn” trong cốt truyện hoặc cảnh phim, chẳng hạn như khi quay cận
26 cảnh thì diễn viên đang cầm một tách cà phê nhưng trong một cảnh quay góc rộng diễn ra chỉ hai giây sau đó, tách cà phê đã biến mất. Trong phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã cố ý tạo ra nhiều đoạn phim ngắn có các cảnh quay lỗi và chiếu cho những người tham gia thí nghiệm xem. Ví dụ, trong một cảnh trò chuyện có máy quay chuyển đổi qua lại giữa hai nhân vật trong cảnh phim, trang phục của một nhân vật liên tục thay đổi. Hoặc một nhân vật đứng lên để trả lời điện thoại, góc quay thay đổi, và trong khung hình tiếp theo thì nhân vật này lại do một diễn viên hoàn toàn khác thay vai. Có trung bình hai phần ba số người tham gia thí nghiệm không để ý những lỗi này, ngay cả khi diễn viên chính đã bị thay. Nhóm nghiên cứu này cũng tiến hành một thí nghiệm khác: một người trong nhóm nghiên cứu chặn những sinh viên đơn lẻ trong sân trường lại để hỏi đường. Khi sinh viên và một thành viên của nhóm nghiên cứu đang nói chuyện, hai thành viên khác của nhóm sẽ khiêng một cánh cửa gỗ đi chen vào giữa họ. Trong một tích tắc khi cánh cửa che tầm nhìn của sinh viên, các thành viên của nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện “màn ảo thuật” hoán đổi vị trí để khi cánh cửa được dời đi thì người hỏi đường đã được thay bởi một thành viên khác. Thật ngạc nhiên là một nửa số sinh viên trong thử nghiệm đã không nhận ra sự hoán đổi và vẫn tiếp tục cuộc trò chuyện như không có gì xảy ra. Một ví dụ đau buồn về hiện tượng này trong đời thực đã diễn ra tại Boston trước buổi bình minh của một ngày tháng Một năm 1995, khi anh cảnh sát Kenny Conley đang chạy qua dãy hàng rào lưới mắt cáo để đuổi theo nghi phạm của một vụ nổ súng. Conley quá tập trung vào việc đuổi bắt kẻ xấu đến mức không nhìn thấy một sự việc khác đang xảy ra ngay lúc đó: các viên cảnh sát khác đang đánh nhừ tử một người đàn ông mà họ cho là nghi phạm - nhưng thực tế, người này là một cảnh sát chìm. Sau đó, trong phiên tòa, Conley đã khai rằng anh chạy ngang qua chính địa điểm mà đồng nghiệp của mình bị đánh đập tàn bạo, nhưng vì mải tập trung vào nhiệm vụ nên anh đã không để ý thấy chuyện đó. Bài học rút ra: một khi tâm trí âm thầm chuyển sang chế độ mặc định, chúng ta cần phải rất linh hoạt mới áp chế được trạng thái này. Đây là lý do các chuyên gia lại thường là những người cuối cùng nhận ra các giải pháp thông dụng để giải quyết những vấn đề đơn giản - một hiện tượng mà nhà kinh tế học Thorstein Veblen gọi là “sự mất năng lực do được đào tạo” của các chuyên gia. Sự tự tin thái quá khiến một người lành nghề bỏ qua thông tin mà bối cảnh thực tế mang lại, và càng quen thuộc với một loại vấn đề cụ thể nào đó thì một chuyên gia càng dễ có khuynh hướng sử dụng một giải pháp có sẵn trong bộ nhớ của mình hơn là đưa ra phản ứng phù hợp với tình huống đang diễn ra trong thực tế. Trong một nghiên cứu khác, các bác sĩ tâm lý được xem một cuộc phỏng vấn mà theo như họ được thông báo thì người được phỏng vấn hoặc là ứng viên xin việc hoặc là bệnh nhân tâm thần. Các bác sĩ này được yêu cầu sử dụng chuyên môn để đánh giá người được phỏng vấn. Khi tin rằng người được phỏng vấn đang
27 xin việc, các bác sĩ mô tả người này là bình thường và có tâm lý khá ổn định; cũng cùng đối tượng phỏng vấn này nhưng được nhận định như một bệnh nhân thì các bác sĩ lại mô tả họ là những người dễ bị căng thẳng và có năng lực hạn chế. Thay vì tập trung chú ý đến người đang hiện diện trước mắt, các bác sĩ trong nghiên cứu này đã dựa vào những gợi ý hời hợt để đưa ra các đánh giá cũng hời hợt dựa vào kinh nghiệm của mình. Thực tế đã cho thấy có lẽ họ thật sự đã bị “ru ngủ” bởi sự tự tin thái quá vào năng lực chuyên môn của bản thân. Nói chung, các chuyên gia - hoặc những người được đánh giá cao trong lĩnh vực hoạt động của họ - thường bị mắc câu bởi họ không thoát được chính sự tự phụ của bản thân. Nhưng vị thế hoặc thành tích trong lĩnh vực này không phải lúc nào cũng liên quan đến lĩnh vực khác. Một nhóm các nhà môi giới chứng khoán mà tôi từng gặp tại hội thảo đều đồng ý rằng bác sĩ phẫu thuật có tiếng là những nhà đầu tư tồi nhất vì họ chỉ lắng nghe tư vấn đầu tư từ các bác sĩ phẫu thuật khác. Nhưng điều mỉa mai là các nhà đầu tư chứng khoán này cũng đang sử dụng một kiểu nguyên tắc quyết định dựa trên kinh nghiệm ngớ ngẩn khi đồng thuận với nhau về khả năng đầu tư yếu kém của bác sĩ phẫu thuật. Một ví dụ khác là trong những buổi dã ngoại của toàn công ty, các vị CEO thường tự mặc định họ phải là người chỉ huy mà không nghĩ rằng anh nhân viên trẻ tuổi mới vào làm việc trong phòng văn thư sau khi xuất ngũ kia có thể có kỹ năng và kinh nghiệm phù hợp hơn họ để hướng dẫn mọi người trong các hoạt động liên quan tới leo núi và đu dây thừng. Những người bị cuốn vào một lối suy nghĩ hoặc cách cư xử nhất định nào đó không thật sự quan tâm đến thực tế. Họ không cảm nhận được tình huống - những gì đang thật sự diễn ra, so với những gì họ nghĩ là đang diễn ra. Thay vào đó, họ nhìn thế giới theo cách họ muốn thấy, hoặc vì họ đã phân loại các sự việc vào những hạng mục có thể có cũng có thể không liên quan đến tình huống thực tế. Đa số các nạn nhân thương vong trong hỏa hoạn hoặc tai nạn máy bay là những người đã cố thoát ra ngoài qua cùng cánh cửa mà họ đã đi vào. Trong cơn hoảng loạn, họ hành động dựa theo một khuôn mẫu được thiết lập từ trước thay vì tìm lối thoát khác. Tương tự như vậy, nỗi đau mà chúng ta phải gánh chịu, cảm giác chán nản đến mức muốn bỏ cuộc, những thử thách trong mối quan hệ và nhiều khó khăn khác trong cuộc sống của chúng ta hầu như không bao giờ được giải quyết bằng lối tư duy cũ và rập khuôn. Khả năng linh hoạt trong cảm xúc nghĩa là nhạy với tình huống và phản ứng phù hợp với thực tế đang diễn ra. Chắc chắn chúng ta không muốn chấm dứt những suy nghĩ và cảm xúc đang tuôn chảy trong tâm trí mình, bởi vì điều đó đồng nghĩa với hồi kết của chúng ta. Nhưng một lần nữa, câu hỏi đặt ra là: “Ai chịu trách nhiệm, người có các suy nghĩ hay chính các suy nghĩ?”. Chúng ta đang lèo lái cuộc đời mình theo những giá trị riêng và những điều quan trọng đối với chúng ta, hay chúng ta chỉ đơn giản là trôi theo dòng đời?
28 Khi chúng ta không làm chủ cuộc đời mình, không hành động theo ý chí và với đầy đủ các phương án lựa chọn mà một trí tuệ thông suốt có thể gợi lên, đó chính là lúc chúng ta bị mắc câu. Bốn “móc câu” phổ biến nhất Móc câu 1: Đổ lỗi cho suy nghĩ “Tôi nghĩ tôi sẽ tự làm mình bẽ mặt, vậy nên tôi đã không trò chuyện với ai tại bữa tiệc.” “Tôi nghĩ cô ấy khá thờ ơ, vì vậy tôi không chia sẻ thông tin dự án với cô ấy nữa.” “Tôi nghĩ anh ấy sẽ bắt đầu nói về tình hình tài chính của chúng tôi nên tôi bỏ ra khỏi phòng.” “Tôi nghĩ mình sẽ nói ra những lời nghe rất ngu ngốc, thế nên tôi không nói gì hết.” “Tôi nghĩ cô ấy sẽ là người chủ động, nên tôi đã không gọi điện cho cô ấy.” Trong các ví dụ trên, người nói đổ lỗi cho những suy nghĩ của mình khi làm hoặc không làm việc gì đó. Khi bạn bắt đầu đổ lỗi cho suy nghĩ, sẽ không có đủ không gian giữa kích thích và phản ứng - nói theo cách của Frankl - để bạn đưa ra các lựa chọn thật sự. Nếu chỉ có ý nghĩ thôi thì không thể tạo ra hành vi. Những câu chuyện cũ cũng không dẫn đến hành vi. Chính chúng ta tạo ra hành vi của mình. Móc câu 2: Tâm viên ý mã “Tâm viên ý mã” (tâm như khỉ leo, ý như ngựa chạy) là một cách diễn đạt thường được dùng để mô tả một tâm trí không yên và cứ nhảy từ chủ đề này sang chủ đề khác. Có thể bạn đang tranh cãi với người bạn đời của mình (hoặc với cha mẹ, con cái, bạn bè, đồng nghiệp) và anh ấy giận dữ đi ra khỏi nhà. Trong lúc ngồi trên tàu điện đến văn phòng, bạn nghe tâm trí mình ồn ào: “Tối nay mình sẽ nói cho anh ấy biết mình thất vọng thế nào khi anh ấy chỉ trích cha mẹ mình”. Khi bạn lên kế hoạch cho cuộc nói chuyện đó, suy nghĩ dựa trên dự cảm này biến thành một cuộc trò chuyện tưởng tượng trong tâm trí bạn. Anh ấy có thể nói thêm điều gì đó khó nghe về cha mẹ của bạn, nên bạn sẽ đáp trả bằng những nhận xét về người em trai “không nên thân” của anh ấy. Bạn dự đoán những lời mà bạn cho rằng anh ấy sẽ nói và bạn tính trước sẽ đáp trả thế nào. Khi đến được chỗ làm thì bạn đã mệt lử vì cuộc tranh cãi dữ dội mà bạn tự nghĩ ra trong tâm trí mình. Khi đang ở trạng thái tâm viên ý mã, chúng ta rất dễ bắt đầu quá trình “tồi tệ hóa”, tức là nghĩ ra những kịch bản xấu nhất hoặc làm quá lên những vấn đề nhỏ. Hành động này làm tổn hao năng lượng và lãng phí thời gian của chúng ta. Tai hại hơn, khi đắm chìm trong những câu chuyện tưởng tượng này, bạn không sống trong thực tại. Bạn không để ý những bông hoa trong công viên hay những khuôn mặt thú vị trên tàu. Bạn cũng không cho não của mình khoảng không gian trung
29 lập cần thiết để sáng tạo ra các giải pháp, có thể bao gồm cả giải pháp cho vấn đề đã khiến bạn phiền não ban đầu. Người tâm viên ý mã thường bị níu kéo bởi quá khứ (“Tôi không thể tha thứ cho những việc ông ấy đã làm”) và thúc giục bởi tương lai (“Tôi vô cùng trông đợi đến ngày tôi nghỉ việc và cho sếp biết tôi thật sự tức giận đến thế nào”). Tâm trí họ lúc này cũng thường chứa đầy những từ ngữ phán xét và mang tính ép buộc, chẳng hạn như “phải”, “không thể” và “nên” (“Tôi phải giảm cân”, “Tôi không thể thất bại”, “Tôi không nên cảm thấy thế này”). Trạng thái tâm viên ý mã khiến bạn xa rời thực tại và xa rời những điều tốt nhất cho cuộc đời mình. Móc câu 3: Những ý niệm cũ và lạc hậu Kevin thật lòng khát khao một mối quan hệ nghiêm túc. Ngoài mặt, anh ấy rất vui vẻ và phù phiếm. Nhưng trong thâm tâm, anh đã đóng cửa trái tim, không tin tưởng và luôn giữ khoảng cách với phụ nữ. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả các cuộc tình của anh đều tan vỡ. Kevin kể với tôi rằng cha của anh là một kẻ nghiện rượu có khuynh hướng bạo lực, thường xuyên chửi bới và đánh anh khi anh phạm lỗi, đôi khi là ngay trước mặt bạn bè của anh. Từ khi còn nhỏ, Kevin đã học được cách giấu nỗi buồn hoặc không thể hiện các điểm yếu của mình, vì cha sẽ lợi dụng những điều đó để làm tổn thương anh. Bài học Kevin nhận được khi đó là nếu ngay cả những người thân cận nhất cũng công kích bạn, tốt hơn hết là hãy tách bản thân khỏi cảm xúc của chính mình và khỏi mọi người xung quanh. Hành vi của Kevin thật sự có tác dụng khi anh còn nhỏ; nó bảo vệ tinh thần của anh và giữ an toàn cho anh về mặt thể chất. Nhưng đó là trong quá khứ. Hai mươi năm sau, niềm tin vụn vỡ của Kevin không khác gì một đôi giày quá nhỏ luôn bó chân anh. Anh cư xử như thể mỗi ngày anh vẫn sống trong bi kịch thuở bé. Thứ anh cần chính là phản ứng linh hoạt trong cảm xúc để thích ứng với những tình huống rất khác và tích cực hơn nhiều trong cuộc sống trưởng thành của anh ở hiện tại. Những suy nghĩ cũ và khó chịu của anh chỉ đơn giản là không còn hữu ích cho anh nữa. Tina, một trong những khách hàng tham gia chương trình tập huấn của tôi, vừa mới được đề bạt làm CEO của một công ty dịch vụ tài chính lớn. Thuở mới vào nghề, cô làm nhân viên giao dịch chứng khoán ở New York, trong một môi trường cạnh tranh không khoan nhượng và nam giới áp đảo. Trên sàn giao dịch, cô đã học được rằng nói về cuộc sống cá nhân của mình là điều cấm kỵ và cô cần thể hiện mình cũng mạnh mẽ như những nam đồng nghiệp dày dạn kinh nghiệm xung quanh. Cách này tốt cho cô khi cô làm việc trên sàn giao dịch, và cô thấy yêu công việc của mình. Tuy nhiên, khi chuyển đến một tổ chức mới, cô nhận ra rằng người ta không muốn đi theo một cỗ máy. Cô cần thể hiện cảm xúc và sự chân thành, nhưng cô lại gặp khó khăn trong việc thân thiết với người khác. Cũng giống như Kevin, cô sống trong một câu chuyện lỗi thời. Những gì đã giúp cô đạt được vị trí
30 hiện tại không thể đưa cô lên vị trí cao hơn. Cô cần linh hoạt để thích nghi với hoàn cảnh đã thay đổi. Móc câu 4: Chính nghĩa mù quáng Người ta nói rằng trong một phiên tòa, bạn không bao giờ có được công lý; nếu may mắn thì bạn chỉ có được một thỏa thuận tốt nhất có thể mà thôi. Trong rất nhiều khía cạnh khác của cuộc sống, chúng ta bám víu quá lâu vào việc phải giành lấy công lý, phải chứng tỏ hoặc phải đập tan sự nghi ngờ và chứng minh mình đúng. Bất cứ ai từng có mối quan hệ lãng mạn kéo dài hơn vài tháng đều đã trải qua một cuộc tranh cãi, đặc biệt là tranh cãi với người mình yêu thương, mà trong đó có một khoảnh khắc bạn nhận ra mặt hồ đã lặng sóng, cả hai bên đều đạt được một sự thấu hiểu hoặc một thỏa thuận hòa bình nào đó và lựa chọn tốt nhất của bạn lúc này là im lặng, để cho sự việc qua đi, tắt đèn và đi ngủ. Nhưng rồi có điều gì đó thôi thúc bạn phải nói thêm một câu nữa để chứng minh rằng thật ra bạn đúng và người kia sai - và thế là sóng gió lại nổi lên. Tương tự như vậy, nhu cầu chứng minh mình đúng hoặc chứng minh mình bị đối xử bất công có thể cướp mất của bạn nhiều năm cuộc đời. Trong nhiều gia đình và ở nhiều nơi trên thế giới, có những mối thù truyền kiếp tồn tại lâu đến nỗi không ai còn nhớ được nguồn cơn ban đầu nữa. Trớ trêu thay, điều này chỉ kéo dài cảm giác về sự bất công, bởi vì bạn đang tự đẩy bản thân mình ra khỏi những điều tốt đẹp khác mà bạn trân trọng, chẳng hạn như sự kết nối thân thiết với gia đình hoặc bạn bè. Tôi thích hình ảnh mà chúng tôi thường dùng để mô tả loại hiện tượng giận quá mất khôn và tự làm tổn thương bản thân này: ghét mặt nên cắt mũi. * Triết gia Hy Lạp cổ đại Heraclitus, người được tôn là ông tổ của phép biện chứng, đã nói rằng bạn không thể tắm hai lần trên một dòng sông. Ý của ông là thế giới luôn thay đổi và do đó, nó luôn mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội và tình huống mới. Để tận dụng tối đa đặc điểm này, chúng ta phải liên tục phá bỏ các nhóm phạm trù cũ và xây dựng các nhóm mới. Các giải pháp mới và thú vị nhất thường đến khi chúng ta tư duy theo “tâm trí của người mới bắt đầu”, tức là tiếp cận những trải nghiệm mới lạ với thái độ hào hứng của người mới được bắt đầu hành trình của riêng mình. Đây chính là nền tảng của khả năng linh hoạt cảm xúc. Cách nay một hoặc hai thế hệ, xã hội gần như vẫn vận hành dựa trên kiểu phân loại “hoạt động của nam giới” và “hoạt động của nữ giới”. Ngày nay, nếu còn phân biệt cứng nhắc như vậy, bạn có thể bị chỉ trích. Tương tự, một số người trong chúng ta có khuynh hướng tự đóng khung mình, không nhận ra giá trị bản thân trong tư cách một cá nhân, nhìn nhận bản thân một cách hạn hẹp và đơn điệu - chẳng hạn như nghĩ mình là người giàu, người mập, người lập dị hoặc kẻ quê mùa. Chúng ta từ lâu đã học được rằng tự phân loại bản thân theo kiểu “vợ của
31 Johnson” là một sự xác nhận hạn chế và sai lạc. Nhưng thật ra thì những cái nhãn như “CEO”, “cá nhân xuất chúng”, “đứa trẻ thông minh nhất lớp” hay thậm chí là “vận động viên Olympic” cũng không khá hơn. Mọi thứ đã thay đổi. Chúng ta cần sự linh hoạt để đảm bảo mình cũng có thể thay đổi cho phù hợp. Linh hoạt cảm xúc có nghĩa là nhận thức và chấp nhận tất cả các cảm xúc của bạn, thậm chí rút ra được bài học từ những cảm xúc khó chịu nhất. Linh hoạt cảm xúc cũng có nghĩa là vượt qua những nhận thức cũng như phản ứng cảm xúc có điều kiện hoặc đã được lập trình sẵn (các “móc câu” của bạn) để sống trong thực tại với cái nhìn rõ ràng về tình huống trước mắt, phản ứng thích hợp và sau đó hành động phù hợp với các giá trị sâu sắc nhất của bạn. Trong các chương tiếp theo, tôi sẽ hướng dẫn bạn cách trở thành một người linh hoạt cảm xúc để nhờ đó bạn có thể sống một cuộc đời trọn vẹn nhất.
32 C 3 THOÁT KHỎI MÓC CÂU húng ta có nhiều cảm xúc khác nhau, nhưng trong khuôn khổ quyển sách này, chúng tôi xác định có bảy cảm xúc cơ bản: vui vẻ, buồn bã, tức giận, sợ hãi, ngạc nhiên, khinh thường và ghê tởm. Tất cả những cảm xúc này đã giúp chúng ta sống sót qua hàng triệu năm tiến hóa và vẫn còn là một phần trong con người chúng ta ngày nay. Tuy nhiên, trong bảy cảm xúc đó, các cảm xúc tức giận, buồn bã, sợ hãi, khinh thường và ghê tởm thuộc nhóm gây khó chịu trên nấc thang cảm xúc. (“Ngạc nhiên” có thể thuộc nhóm dễ chịu hoặc khó chịu.) Tại sao