Xứ Cát

phần lớn là

phần lớn là

phần lớn là nhờ công dạy dỗ của ông. Về điểm đó thì ông đã không thất bại!” Ông vỗ nhẹ vào lưng chiếc ghế trống. “Ta nói rồi, ngồi xuống đi!” Hawat hạ người xuống ghế. “Nhưng...” “Ta sẽ không nghe thêm gì về việc ấy nữa,” Công tước nói. “Vụ đó qua rồi. Chúng ta còn những việc cấp bách hơn. Những người khác đâu rồi?” “Tôi bảo họ đợi bên ngoài trong lúc tôi...”

“Gọi họ vào đi.” Hawat nhìn vào mắt Công tước. “Thưa Ngài, tôi...” “Ta biết ai là những người bạn thực sự, Thufir ạ,” Công tước nói. “Gọi những người khác vào đây.” Hawat nuốt nước bọt. “Ngay lập tức, thưa Chúa công.” Ông xoay người trong chiếc ghế, gọi với ra ngoài cánh cửa đang mở: “Gurney, đưa họ vào đi.” Halleck dẫn hàng quân vào phòng, những sĩ quan tham mưu trông vẻ nghiêm trang,

theo sau là các chuyên gia và đội sĩ quan phụ tá trẻ hơn, từ họ toát lên một không khí háo hức. Tiếng kéo lê chân ghế vang dội quanh phòng khi những người này lấy chỗ ngồi. Mùi thơm của chất kích thích rachag phảng phất dưới bàn. “Ai muốn uống thì có cả cà phê đấy,” Công tước nói. Ông nhìn mọi người, suy nghĩ: Họ là một đội giỏi. Với cái kiểu chiến tranh này thì người ta có thể làm tồi hơn thế nhiều.Ông chờ đợi trong lúc phòng kế bên mang cà phê vào phục vụ mọi người, để ý thấy nét mệt mỏi trên vài gương mặt.

Ngay sau đó, ông đeo cái mặt nạ điềm tĩnh vào, đứng lên, gõ tay lên bàn ra lệnh cho họ chú ý. “Nào, thưa quý vị,” ông nói, “nền văn minh của chúng ta dường như ngập quá sâu vào thói quen đi xâm lược đến nỗi chúng ta thậm chí không thể tuân theo một mệnh lệnh đơn giản của Đế chế mà những lề thói cũ lại không tự dưng xuất hiện.” Những tiếng cười khùng khục khô khan vang lên xung quanh bàn, và Paul nhận ra cha cậu đã nói đúng vấn đề bằng đúng cái giọng phù hợp để nâng cao tinh thần

mọi người ở đây. Thậm chí thoáng mệt mỏi trong giọng của ông cũng phù hợp nốt. “Tôi nghĩ đầu tiên chúng ta nên biết liệu Thufir có thêm được gì vào bản báo cáo về người Fremen không?” Công tước nói. “Thufir?” Hawat liếc nhìn lên. “Tôi sẽ đi vào một số vấn đề kinh tế sau bản báo cáo tổng hợp, thưa Ngài, nhưng tôi có thể nói ngay là càng lúc người Fremen càng chứng tỏ họ là những đồng minh chúng ta cần. Bây giờ họ đang đợi xem liệu có thể tin tưởng chúng ta không, nhưng họ có vẻ xử sự rất thoáng. Họ vừa gửi cho chúng ta một

món quà - những bộ sa phục do họ sản xuất... bản đồ một số vùng sa mạc bao quanh các đồn lũy mà bọn Harkonnen bỏ lại...” Ông liếc xuống bàn. “Những báo cáo tình báo của họ hoàn toàn đáng tin cậy và đã giúp chúng ta rất nhiều trong việc đàm phán với Phán quan Phụ trách Thay đổi. Họ cũng vừa gửi vài món phụ - nữ trang cho Lệnh bà Jessica, rượu hương dược, đường phèn, thuốc. Người của tôi đang xử lý lô hàng đó. Có vẻ như không có gì gian trá cả.” “Ông thích những người này, phải không Thufir?” một người ngồi ở bàn hỏi. Hawat quay lại đối mặt với người hỏi.

“Duncan Idaho nói rằng họ là những người đáng ngưỡng mộ.” Paul liếc cha, quay lại nhìn Hawat, rồi đánh bạo hỏi: “Thầy có thông tin gì mới về việc có bao nhiêu người Fremen không?” Hawat nhìn Paul. “Từ việc chế biến thực phẩm và các bằng chứng khác, Idaho ước tính khu liên hợp hang động mà anh ấy đến thăm có khoảng vài chục ngàn người cả thảy. Thủ lĩnh của họ nói rằng ông ta cai trị một sietch gồm hai ngàn gia đình. Chúng ta có lý do để tin rằng có một số lượng cộng đồng hang lớn đến thế. Tất cả bọn họ dường như đều dâng lòng trung

thành cho một người có tên là Liet.” “Tin này thì mới đây,” Leto nói. “Đó có thể là một sai sót về phần tôi, thưa Chúa công. Có nhiều điều để tin rằng có thể ông Liet này là một ông thánh của dân địa phương.” Một người khác ở bàn hắng giọng hỏi: “Có chắc là họ giao thiệp với bọn buôn lậu không?” “Một đoàn buôn lậu đã rời cái hang này trong lúc Idaho ở đó, mang theo một lượng lớn hương dược. Họ sử dụng thú dữ để thồ hàng và cho biết họ đã phải

trải qua một cuộc hành trình mười tám ngày ròng rã.” “Dường như bọn buôn lậu đã tăng cường hoạt động gấp đôi trong thời buổi hỗn loạn này,” Công tước nói. “Việc này đáng để suy xét cẩn thận đây. Chúng ta không nên quá lo lắng về những tàu chiến không được cấp phép đang hoạt động bên ngoài hành tinh chúng ta - chuyện đó thì bao giờ bọn họ chẳng làm. Nhưng để họ hoàn toàn nằm ngoài tầm theo dõi của chúng ta - việc này cũng không tốt.” “Ngài có phương án rồi đúng không, thưa Chúa công?” Hawat hỏi.

Công tước nhìn Halleck. “Gurney, ta muốn ông dẫn đầu một phái đoàn, làm đại sứ nếu ông muốn, để tiếp xúc với những thương gia lãng mạn này. Bảo với họ là ta sẽ phớt lờ chuyện làm ăn của họ với điều kiện họ nộp cho ta một khoản thuế nhỏ. Về điểm này Hawat đã ước tính rằng khoản tiền mà xưa nay họ phải bỏ ra để đút lót và nuôi thêm quân chiến đấu hầu có thể hoạt động được cũng đã lớn gấp bốn lần khoản thuế này.” “Điều gì sẽ xảy ra nếu Hoàng đế nghe phong thanh chuyện này?” Halleck hỏi. “Ông ấy cố sống cố chết bảo vệ nguồn lợi nhuận trong công ty CHOAM của mình, thưa Chúa công.”

Leto mỉm cười. “Chúng ta sẽ công khai gửi toàn bộ tiền thuế vào ngân hàng dưới cái tên Shaddam IV và sẽ khấu trừ hợp pháp các khoản chi phí hỗ trợ thu thuế của chúng ta. Cứ để bọn Harkonnen đấu tranh chống lại việc đó! Và chúng ta sẽ làm phá sản thêm ít nhiều dân địa phương đã vớ bẫm dưới chế độ Harkonnen. Không còn việc đút lót nữa!” Một nụ cười toe toét làm biến dạng khuôn mặt Halleck. “Chà chà, thưa Chúa công, một cú đả kích ra trò đấy. Giá mà tôi có thể thấy gương mặt lão Nam tước khi lão biết chuyện này.”

Công tước quay sang Hawat. “Thufir, ông đã có những bản kê khai tài chính mà ông nói là có thể mua được chưa?” “Có rồi, thưa Chúa công. Ngay lúc này người của tôi vẫn đang nghiên cứu chi tiết. Tuy nhiên tôi đã đọc lướt qua, và có thể đưa ra một con số xấp xỉ đầu tiên.” “Vậy thì nêu ra đi.” “Cứ ba trăm ba mươi Ngày Chuẩn, bọn Harkonnen lại lấy mười tỷ solari ra khỏi đây.” Những tiếng thở hổn hển cố nén lan khắp bàn. Ngay những sĩ quan phụ tá trẻ hơn,

những người vừa để lộ nỗi buồn chán, cũng ngồi thẳng hơn và mở to mắt nhìn nhau. Halleck lẩm bẩm: “‘Bởi bọn chúng sẽ hút vô vàn biển cả và châu báu ẩn dưới cát.’ ” “Các vị thấy đấy,” Leto nói. “Ở đây còn có ai ngây thơ tin rằng chỉ đơn thuần vì Hoàng đế ra lệnh mà bọn Harkonnen đã lẳng lặng thu dọn đồ đạc ra đi, bỏ lại tất cả?” Mọi cái đầu đều lắc, họ xì xào tán đồng. “Chuyện này thì chúng ta sẽ phải giải

quyết bằng mũi gươm thôi,” Leto nói. Ông quay sang Hawat. “Giờ thì đến lúc nghe báo cáo về chuyện thiết bị rồi. Bọn chúng để lại cho chúng ta bao nhiêu con bọ cát, xưởng khai thác, nhà máy hương dược và máy móc hỗ trợ?” “Toàn bộ các thiết bị, theo như bản kê khai tài sản của Đế quốc đã được Phán quan Phụ trách Thay đổi kiểm tra, thưa Chúa công,” Hawat nói. Ông ra hiệu cho một sĩ quan phụ tá đưa cho ông một tập hồ sơ, đặt trên bàn trước mặt rồi mở ra. “Người ta bỏ qua không nhắc tới rằng chưa tới phân nửa số bọ cát còn hoạt động được, rằng chỉ chừng một phần ba trong số đó có tàu thồ để mang chúng tới

các bãi chứa hương dược - rằng tất cả những gì bọn Harkonnen để lại cho chúng ta đều sắp sửa gãy đôi và vỡ ra từng mảnh. Nếu đưa vào sử dụng được phân nửa số thiết bị cũng đã là may mắn cho chúng ta lắm rồi, và sẽ còn may hơn nếu sáu tháng nữa một phần tư trong số đó vẫn còn hoạt động.” “Cũng không khác nhiều so với những gì chúng ta chờ đợi,” Leto nói. “Dự đoán chính xác về thiết bị cơ bản thì thế nào?” Hawat liếc vào tập hồ sơ. “Khoảng chín trăm ba mươi xưởng khai thác sẽ được gửi trong vài ngày nữa. Khoảng sáu ngàn hai trăm năm mươi tàu chim để khảo sát,

săn tìm hương dược và quan sát khí tượng... tàu thồ thì xấp xỉ một ngàn.” Halleck nói: “Nếu tiến hành đàm phán lại với Hiệp hội để xin phép đưa một tàu chiến lên quỹ đạo làm vệ tinh khí tượng thì liệu có rẻ hơn không?” Công tước nhìn Hawat. “Không có gì mới về chuyện đó hả, Thufir?” “Giờ thì chúng ta phải tìm cách khác,” Hawat nói. “Đại diện của Hiệp hội không thực sự đàm phán với chúng ta. Hắn ta nói huỵch toẹt ra - như một Mentat nói với một Mentat khác - rằng giá cả nằm ngoài tầm với của chúng ta và

sẽ cứ như vậy dù tầm với của chúng ta có dài ra đến đâu đi nữa. Nhiệm vụ của chúng ta là tìm hiểu tại sao trước khi gặp lại hắn.” Một sĩ quan phụ tá của Halleck ngồi ở cuối bàn cựa mình trên ghế, thốt lên gay gắt: “Chẳng có công lý nào trong chuyện này cả!” “Công lý ư?” Công tước nhìn người đó. “Ai đòi công lý vậy? Tự chúng ta làm ra công lý của riêng mình. Chúng ta làm ra nó trên Arrakis này - thắng hay là chết. Ông có hối tiếc đã đánh bạc số phận mình với chúng tôi không, thưa ông?”

Người đó nhìn chằm chằm vào Công tước, rồi nói: “Không, thưa Ngài. Ông không còn đường quay lại và tôi chẳng thể làm gì khác ngoài đi theo ông. Xin tha thứ cho sự lỡ lời, nhưng...” anh ta nhún vai, “ắt hẳn tất cả chúng ta ai cũng có đôi khi cảm thấy căm phẫn.” “Nỗi căm phẫn thì ta hiểu,” Công tước nói. “Nhưng chúng ta đừng nói năng căm phẫn về chuyện công lý chừng nào ta vẫn còn đôi tay và tự do để sử dụng đôi tay. Còn ai trong các vị đang nung nấu nỗi căm phẫn không? Nếu có thì hãy nói ra. Đây là cuộc họp thân mật, ai cũng có thể nói lên cảm nghĩ của mình.”

Halleck cựa mình, nói: “thưa Chúa công, tôi nghĩ vấn đề bức bối là chúng ta không có người tình nguyện từ phía các Đại Gia tộc khác. Họ gọi Ngài là ‘Leto Công chính’ và hứa hẹn mãi mãi duy trì tình bằng hữu, nhưng chỉ chừng nào việc đó không khiến họ phải mất bất cứ thứ gì.” “Họ còn chưa biết ai sẽ thắng trong cuộc trao đổi này,” Công tước nói. “Hầu hết các Gia tộc đã vớ bở nhờ chấp nhận ít rủi ro. Thật ra cũng không thể buộc tội họ về chuyện đó; chỉ có thể coi khinh họ thôi.” Ông nhìn Hawat. “Chúng ta đang bàn chuyện thiết bị. Ông có thể trình bày vài ví dụ để mọi người làm quen với các máy móc này không?”

Hawat gật đầu, ra hiệu cho một sĩ quan phụ tá đang ở cạnh chiếc máy chiếu. Một hình chiếu ba chiều xuất hiện phía trên mặt bàn, nằm ở chừng một phần ba khoảng cách tính từ điểm đặt máy đến chỗ Công tước ngồi. Vài người ngồi xa hơn dọc chiếc bàn đứng dậy để nhìn cho rõ. Paul cúi người về phía trước, nhìn chằm chằm vào chiếc máy. Xét theo tỉ lệ so với những hình người nhỏ xíu đứng xung quanh cỗ máy trong hình chiếu, cỗ máy dài khoảng một trăm

hai mươi mét, rộng bốn mươi mét. Nhìn chung nó là một vật thể dài, giống như con bọ, di chuyển trên những bộ xích rộng hoạt động độc lập. “Đây là một xưởng khai thác,” Hawat nói. “Chúng tôi chọn một xưởng đã được sửa chữa tốt để làm hình chiếu. Còn có một bộ thiết bị gàu xúc đã đến đây cùng với nhóm đầu tiên các nhà sinh thái học của Đế quốc, thế mà nó vẫn chạy được... mặc dù tôi không biết làm cách nào... hoặc tại sao.” “Nếu đó là cái mà người ta gọi là ‘Maria Khú đế’ thì nó phải vào viện bảo tàng rồi mới phải,” một sĩ quan phụ tá nói. “Chắc

là bọn Harkonnen coi việc trông nom nó như một sự trừng phạt, một mối đe dọa treo lơ lửng trên đầu công nhân của chúng. Hãy làm ăn cho đàng hoàng, nếu không sẽ bị giao nhiệm vụ chăm sóc Maria Khú đế.” Những tiếng cười khùng khục vang lên quanh bàn. Paul giữ mình tách ra khỏi sự hài hước, cậu tập trung chú ý vào hình chiếu và vào câu hỏi đã choán hết tâm trí cậu. Cậu chỉ vào hình ảnh trên bàn, nói: “Thầy Thufir, có những con sâu cát đủ lớn để nuốt chửng toàn bộ cái xưởng này phải không ạ?”

Sự im lặng nhanh chóng bao trùm lên chiếc bàn. Công tước rủa thầm, rồi nghĩ: Không - ở đây họ phải đối mặt với thực tế. “Ở sâu trong sa mạc có những con sâu cát có thể nuốt toàn bộ cái xưởng này chỉ trong một miếng,” Hawat nói. “Trên chỗ này, gần Tường Chắn, nơi sản xuất hầu hết hương dược, có cả đống sâu cát có thể làm hỏng và ngấu nghiến cái xưởng này tùy thích.” “Tại sao chúng ta không chặn chúng lại?” Paul hỏi.

“Theo báo cáo của Idaho,” Hawat nói, “những tấm chắn gây nguy hiểm trong sa mạc. Một tấm chắn có kích thước bằng thân người sẽ thu hút tất cả bọn sâu cát ở chu vi hàng trăm mét. Có vẻ như tấm chắn sẽ khiến chúng điên cuồng giết chóc. Người Fremen đã nói với chúng ta về việc này và không có lý do gì để nghi ngờ họ. Idaho không nhìn thấy ở sietch có dấu vết gì của tấm chắn hết.” “Không chút gì sao?” Paul hỏi. “Che giấu những thứ kiểu như thế giữa vài ngàn người không phải chuyện dễ,” Hawat nói. “Idaho được tự do ra vào mọi chỗ trong sietch. Anh ta không nhìn

thấy tấm chắn nào cũng như không thấy bất cứ dấu hiệu nào cho thấy họ có sử dụng tấm chắn.” “Thật là một vấn đề nan giải,” Công tước nói. “Chắc chắn bọn Harkonnen đã sử dụng nhiều tấm chắn ở đây,” Hawat nói. “Bọn chúng thì ở làng đồn trú nào cũng có trạm sửa chữa, và các báo cáo của chúng cho thấy chúng phải chi rất nhiều để thay thế và cung cấp phụ tùng cho tấm chắn.” “Liệu người Fremen có cách nào để vô hiệu hóa tấm chắn không?” Paul hỏi.

“Có vẻ là không,” Hawat nói. “Dĩ nhiên về nguyên tắc thì có thể - người ta cho rằng một phản điện tích tĩnh có kích thước cỡ shire thì có thể làm chuyện đó, nhưng chưa ai tiến hành thử nghiệm được cả.” “Trước đây chúng ta đã nghe nói về chuyện đó rồi,” Halleck nói. “Bọn buôn lậu giao thiệp mật thiết với người Fremen cho nên nếu có một thiết bị như vậy thật thì hẳn chúng đã mua rồi. Và cũng chẳng ai ngăn cản chúng bán nó ra ngoài hành tinh này.” “Ta không thích một câu hỏi hệ trọng đến thế mà lại chưa có lời đáp,” Leto nói.

“Thufir, ta muốn ông dành ưu tiên số một để giải quyết vấn đề này.” “Chúng tôi đang tiến hành việc đó, thưa Chúa công.” Hawat hắng giọng. “À-à, Idaho có nói điều này: anh ta bảo rằng không thể nhầm lẫn về thái độ của người Fremen đối với tấm chắn. Anh ta nói hầu như tất cả bọn họ đều rất thích thú về chúng.” Công tước cau mày rồi nói: “Chủ đề thảo luận là thiết bị khai thác hương dược.” Hawat ra hiệu cho viên sĩ quan phụ tá ở cạnh máy chiếu.

Hình ảnh ba chiều của xưởng khai thác được thay thế bằng hình chiếu của một thiết bị có cánh, xung quanh là những hình người nhỏ tí xíu. “Đây là một chiếc tàu thồ,” Hawat nói. “Về cơ bản nó là một tàu chim lớn, chức năng độc nhất là chuyển một xưởng khai thác đến những vùng cát giàu hương dược, sau đó thì giải thoát cho nhà xưởng khi sâu cát xuất hiện. Bọn sâu cát thì luôn luôn xuất hiện. Thu hoạch hương dược là một quá trình tiến vào và thoát ra càng nhiều càng tốt.” “Thật quá phù hợp với nguyên tắc ứng xử của bọn Harkonnen,” Công tước nói. Tiếng cười ồ lên thật đột ngột và quá

lớn. Một chiếc tàu chim thay thế chiếc tàu thồ trong hình ảnh ba chiều. “Những chiếc tàu chim này là loại khá thông thường,” Hawat nói. “Nếu có những điều chỉnh lớn thì phạm vi hoạt động của chúng sẽ xa hơn. Người ta đã bổ sung thêm biện pháp bảo vệ bằng cách hàn kín những phần thiết yếu để chống lại cát và bụi. Chỉ khoảng một phần ba mươi được trang bị tấm chắn - có lẽ nếu loại bỏ trọng lượng của bộ phát trường chắn thì tầm hoạt động của tàu sẽ tăng lên.”

“Ta không thích việc cắt giảm tấm chắn này,” Công tước lẩm bẩm. Và ông nghĩ: Liệu có phải đây là bí mật của bọn Harkonnen không? Phải chăng như vậy nghĩa là chúng ta thậm chí sẽ không thể thoát khỏi đây trên những chiếc tàu chiến được trang bị tấm chắn nếu mọi chuyện đều bất lợi cho chúng ta? Ông lắc đầu quầy quậy để rũ bỏ những ý nghĩ như vậy, rồi nói: “Hãy chuyển sang các dự toán thực tế nào. Lợi nhuận của ta sẽ là bao nhiêu?” Hawat lật hai trang trong cuốn sổ của ông. “Sau khi đánh giá các sửa chữa và thiết bị có thể vận hành, chúng tôi đã có được ước tính đầu tiên về chi phí hoạt

động. Lẽ đương nhiên con số này được tính toán dựa trên số liệu đã khấu hao để cho mức lãi an toàn nhất.” Ông nhắm mắt, đi vào trạng thái nửa nhập định của một Mentat, miệng nói: “Dưới thời Harkonnen, phí bảo dưỡng và lương được giữ ở mức mười bốn phần trăm. Chúng ta sẽ may mắn nếu ban đầu giữ được ở mức ba mươi phần trăm. Nếu tính tới khoản tái đầu tư và các nhân tố tăng trưởng, kể cả phần trăm cho CHOAM và chi phí quân sự, mức lãi của chúng ta sẽ bị giảm xuống rất thấp, chỉ khoảng sáu, bảy phần trăm cho tới chừng nào chúng ta thay được các thiết bị đã quá cũ kỹ. Đến lúc đó chúng ta có thể tăng mức lãi lên mười hai hay mười ba

phần trăm, như lẽ ra phải thế.” Ông mở mắt. “Trừ phi Công tước muốn áp dụng những phương pháp của nhà Harkonnen.” “Chúng ta đang cố nhằm tới một nền tảng vững chắc và lâu bền cho hành tinh này,” Công tước nói. “Chúng ta phải duy trì tỷ lệ người dân hạnh phúc ở mức cao - nhất là người Fremen.” “Nhất là người Fremen,” Hawat tán đồng. “Hồi ở Caladan, chúng ta có uy thế là nhờ sức mạnh trên biển và trên không. Còn ở đây, chúng ta phải phát triển cái mà tôi muốn gọi là sức mạnh sa mạc. Nó

có thể bao hàm sức mạnh không quân, nhưng cũng có thể không. Tôi muốn quý vị lưu ý tới việc thiếu lá chắn cho tàu chim.” Ông lắc đầu. “Bọn Harkonnen trước đây sử dụng người tuyển từ ngoài hành tinh để đảm trách một số vị trí chủ chốt của chúng. Còn ta thì không dám. Nếu không thì cứ mỗi đợt người mới thể nào cũng sẽ có dăm ba thằng nội gián gây chia rẽ.” “Vậy thì ta sẽ buộc phải hài lòng với mức lãi thấp hơn nhiều và sản lượng ít hơn,” Hawat nói. “Sản lượng của chúng ta trong hai mùa đầu sẽ giảm còn một phần ba so với mức bình quân của bọn Harkonnen.”

“Đúng là như thế,” Công tước nói, “đúng như chúng ta mong đợi. Chúng ta sẽ phải hành động nhanh với người Fremen. Ta muốn có năm tiểu đoàn đầy đủ lính Fremen trước khi CHOAM tiến hành kiểm tra sổ sách lần đầu tiên.” “Không còn nhiều thời gian cho việc đó nữa đâu, thưa Chúa công,” Hawat nói. “Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa, các vị biết rõ rồi đấy. Ngay khi có cơ hội, bọn chúng sẽ có mặt ở đây với quân Sardaukar giả trang thành Harkonnen. Ông nghĩ bọn chúng sẽ chuyển đến đây bao nhiêu quân hở Thufir?”

“Bốn hoặc năm tiểu đoàn cả thảy, thưa Chúa công. Không nhiều hơn, chi phí vận chuyển quân của Hiệp hội thế nào thì mọi người cũng biết đấy.” “Sau đó năm tiểu đoàn Fremen cộng với lực lượng của chúng ta phải hành động ngay. Chúng ta sẽ cho vài tên tù nhân Sardaukar diễu hành trước mũi Hội đồng Landsraad và mọi chuyện sẽ khác hẳn - lợi nhuận hoặc không lợi nhuận.” “Chúng ta sẽ làm hết sức mình, thưa Chúa công.” Paul nhìn cha, rồi quay lại Hawat, đột

nhiên nhận ra tuổi tác của vị Mentat này, ý thức được rằng ông lão đã phục vụ ba thế hệ nhà Atreides. Tuổi già. Nó hiện lên trong ánh sáng ướt át của đôi mắt nâu, trong gò má khô sạm và nứt nẻ vì khí hậu ở những nơi xa lạ, trong đường cong của hai vai và trong đôi môi mỏng có màu đỏ của nước ép sapho đã bị biến màu. Quá nhiều việc phụ thuộc vào ông già này, Paul nghĩ. “Hiện chúng ta đang trong một cuộc chiến tranh sát thủ,” Công tước nói, “nhưng nó chưa đạt tới quy mô trọn vẹn. Thufir, tình hình bộ máy Harkonnen ở

đây thế nào rồi?” “Chúng ta vừa loại trừ hai trăm năm mươi chín người chủ chốt của bọn chúng, thưa Chúa công. Còn lại không quá ba phòng giam Harkonnen - có lẽ một trăm người cả thảy.” “Những tên Harkonnen mà ông trừ khử,” Công tước nói, “bọn chúng thuộc tầng lớp giàu có phải không?” “Hầu hết đều lắm tiền nhiều của, thưa Chúa công - thuộc tầng lớp doanh nhân.” “Ta muốn ông hãy làm giả chứng thư tuyên thệ trung thành có chữ ký của từng

tên một,” Công tước nói. “Gửi năm bản sao cho Phán quan Phụ trách Thay đổi. Ta sẽ có lý do hợp pháp rằng chúng đã thề trung thành một cách giả dối. Hãy tịch thu tài sản của chúng, tịch thu mọi thứ, đuổi gia đình chúng đi, lột mũ áo chúng. Và hãy bảo đảm là Hoàng Đế có được mười phần trăm tài sản của chúng. Phải hoàn toàn hợp pháp đấy.” Thufir mỉm cười, để lộ hàm răng nhuộm đỏ dưới đôi môi màu đỏ son. “Một động thái xứng đáng với tổ tiên Ngài, thưa Chúa công. Điều này khiến tôi thấy hổ thẹn vì đã không nghĩ ra nó trước tiên.” Halleck cau mày nhìn sang phía bên kia

bàn, bắt gặp vẻ giận dữ sâu xa trên mặt Paul. Những người khác vừa cười vừa gật gù. Thật sai lầm. Paul nghĩ. Việc này chỉ khiến những người khác đấu tranh dữ dội hơn thôi. Bọn họ chẳng thu được gì từ việc đầu hàng. Cậu biết cái quy ước bất thành văn tự￾do-vô-giới-hạn vốn chi phối luật kanly, nhưng đây là một kiểu hành động có thể tiêu diệt họ ngay cả khi nó trao cho họ chiến thắng. “ ‘Ta là một người lạ trên mảnh đất lạ,’ ” Halleck trích dẫn.

Paul nhìn ông chằm chằm, nhận ra lời trích dẫn từ Kinh thánh Màu Cam, băn khoăn: Phải chăng cả Gurney cũng muốn chấm dứt những mưu mô xảo quyệt? Công tước liếc nhìn bóng đêm bên ngoài cửa sổ, rồi nhìn Halleck. “Gurney, trong số những thợ cát đó ông thuyết phục được bao nhiêu người ở lại với chúng ta?” “Hai trăm tám mươi sáu người tất cả, thưa Chúa công. Tôi nghĩ nắm được họ là chúng ta có thể tự cho mình may mắn rồi. Tất cả bọn họ đều thuộc hạng lành

nghề.” “Không nhiều hơn sao?” Công tước mím môi, rồi nói: “Được rồi, chuyển lời này đến...” Tiếng ồn ào ngoài cửa ngắt lời ông. Duncan Idaho len qua đội bảo vệ trước cửa, đi vội vã dọc theo bàn và cúi xuống tai Công tước. Leto phẩy tay ra hiệu cho anh ta lùi lại, nói: “Nói to lên, Duncan. Anh có thể thấy đây là ban tham mưu chiến lược.” Paul quan sát Idaho, chú ý những chuyển động như mèo và cái phản xạ mau lẹ đã

giúp anh thành một thầy dạy vũ khí khó ganh đua đến thế. Khuôn mặt tròn đen sạm của Idaho quay về phía Paul, đôi mắt của người trông hang động không để lộ chút dấu hiệu quen biết nào, nhưng Paul nhận ra chiếc mặt nạ trầm tĩnh phủ ngoài sự kích động. Idaho đưa mắt dọc chiếc bàn, nói: “Chúng tôi vừa bắt được một nhóm lính đánh thuê Harkonnen giả trang thành người Fremen. Chính người Fremen đã cử một người liên lạc đến để cảnh báo cho chúng ta về nhóm giả mạo này. Tuy nhiên, trong cuộc tấn công, chúng tôi thấy bọn Harkonnen đã phục kích người liên lạc - khiến anh ta bị trọng thương. Chúng

tôi đang trên đường đưa anh ta về đây khám bác sĩ thì anh ta chết. Tôi đã thấy tình trạng nguy kịch của anh ta và dừng lại ngay để làm những gì có thể. Tôi bắt gặp anh ta đang cố gắng ném một cái gì đó đi.” Idaho liếc xuống Leto. “Một con dao, thưa Chúa công, một con dao thuộc loại ngài chưa bao giờ nhìn thấy.” “Dao pha lê à?” có người hỏi. “Không nghi ngờ gì,” Idaho nói. “Màu trắng sữa, dường như tỏa sáng, lấp lánh thứ ánh sáng của riêng nó.” Anh cho tay vào trong áo, rút ra một chiếc vỏ màu đen có tay cầm hình sống gợn.

“Hãy giữ dao trong vỏ!” Một giọng nói cất lên từ cánh cửa mở phía cuối phòng, một giọng nói to, ngân vang làm mọi người đứng cả lên, nhìn chăm chăm. Một người cao lớn, mặc áo choàng dài đứng bên cửa, bị chặn lại bởi những lưỡi gươm bắt chéo nhau của đội bảo vệ. Chiếc áo choàng màu nâu vàng phủ kín ông ta, chỉ trừ một kẽ hở giữa mũ trùm đầu và mạng che mặt màu đen để lộ đôi mắt toàn màu xanh nước biển - bên trong không có chút màu trắng nào. “Để ông ta vào,” Idaho nói khẽ.

“Cho người đó qua đi,” Công tước nói. Đội bảo vệ lưỡng lự, sau đó hạ thấp lưỡi kiếm xuống. “Đây là Stilgar, thủ lĩnh của sietch mà tôi đã đến thăm, chỉ huy của những người đã cảnh bảo chúng ta về nhóm giả trang,” Idaho nói. “Xin chào mừng ngài,” Leto nói. “Tại sao chúng tôi không nên rút con dao này ra khỏi vỏ?” Stilgar liếc Idaho, nói: “Ông đã quan sát phong tục về sự thanh sạch và danh dự

của chúng tôi. Tôi sẽ cho phép ông nhìn thấy lưỡi dao của người mà ông đã giúp đỡ.” Ông ta nhìn lướt qua những người khác trong phòng. “Nhưng tôi không biết những người này. Ông sẽ để họ làm ô uế một thứ vũ khí danh dự sao?” “Ta là Công tước Leto,” Công tước nói. “Ông sẽ cho phép ta nhìn thấy lưỡi dao này chứ?” “Tôi sẽ cho phép ông có quyền rút dao ra khỏi vỏ,” Stilgar nói, và ngay khi tiếng thì thầm phản đối vang lên quanh bàn, ông giơ bàn tay đen sạm, gầy guộc, gân guốc lên. “Tôi xin nhắc quý vị, đây là lưỡi dao của một người đã giúp đỡ

quý vị.” Trong sự im lặng chờ đợi, Paul quan sát người đàn ông, cảm thấy một vầng uy lực tỏa ra từ ông ta. Ông ta là một thủ lĩnh - một thủ lĩnh Fremen. Một người ngồi quãng giữa bàn phía đối diện với Paul lẩm bẩm: “Hắn ta là ai mà lại bảo chúng ta rằng chúng ta có quyền gì với không có quyền gì ở Arrakis chứ?” “Người ta nói Công tước Leto cai trị theo sự đồng thuận của những người bị trị,” người Fremen nói. “Do đó tôi phải nói cho ông biết lề thói của chúng tôi:

những ai đã nhìn thấy dao pha lê đều phải mang một trách nhiệm nào đó.” Ông ta ném một cái liếc nhìn u tối sang Idaho. “Họ thuộc về chúng tôi. Có thể họ sẽ không bao giờ được rời khỏi Arrakis nếu chúng tôi không cho phép.” Halleck và vài người khác bắt đầu đứng dậy, nét giận dữ hiện rõ trên mặt. Halleck nói: “Công tước Leto mới là người quyết định được hay không...” “Xin hãy đợi đã,” Leto nói, và chính sự ôn hòa trong giọng ông đã kiềm chế họ lại. Không thể để chuyện này vuột ra ngoài tầm kiểm soát, ông nghĩ. Ông nói với người Fremen: “Thưa Ngài, tôi tôn

kính và trân trọng phẩm giá cá nhân của bất cứ người nào tôn trọng phẩm giá của tôi. Quả thật tôi hàm ơn quý vị. Và tôi luôn luôn trả các món nợ của mình. Nếu theo tập quán của quý vị con dao này vẫn nằm trong vỏ ở đây, thì lệnh - của chính tôi - sẽ được ban truyền y như thế. Và nếu có bất kỳ cách nào khác để chúng tôi tỏ lòng tôn kính đối với người đã chết vì phụng sự chúng tôi, Ngài chỉ việc nói ra.” Người Fremen nhìn Công tước chằm chặp, rồi từ từ kéo mạng che mặt sang bên, để lộ chiếc mũi mảnh và cái miệng có cặp môi dày, lọt thỏm giữa bộ râu đen nhánh. Một cách chủ tâm, ông ta cúi

xuống phía cuối bàn, nhổ nước bọt lên mặt bàn sáng bóng. Khi những người ngồi quanh bàn đứng phắt dậy, giọng Idaho vang khắp phòng: “Bình tĩnh.” Trong cái yên lặng đột ngột đầy sôi sục, Idaho nói: “Chúng tôi cám ơn Ngài, Stilgar, về món quà hơi ẩm cơ thể của Ngài. Chúng tôi xin nhận nó theo đúng tinh thần mà nó đã được trao.” Và Idaho nhổ nước bọt lên bàn trước mặt Công tước. Quay về phía Công tước, anh ta nói: “Xin hãy nhớ nước quý giá đến nhường

nào ở xứ này, thưa Chúa công. Đó là dấu hiệu tỏ lòng tôn kính.” Leto ngả người vào ghế, bắt gặp ánh mắt Paul, một nụ cười phiền muộn trên mặt con trai ông, cảm thấy sự căng thẳng quanh bàn giảm dần khi thuộc hạ của ông bắt đầu hiểu ra sự tình. Người Fremen nhìn Idaho nói: “Duncan Idaho, ông đã cân nhắc cẩn thận khi ở sietch của tôi rồi. Liệu có giao ước nào về lòng trung thành của ông đối với Công tước không?” “Ông ta đang mời tôi gia nhập lực lượng của ông ta, thưa Chúa công,” Idaho nói.

“Ông ta chấp nhận một lòng trung thành hai mang sao?” Leto hỏi. “Ông có muốn tôi đi cùng ông ta không, Công tước?” “Chuyện này tôi muốn anh tự quyết định lấy,” Leto nói, và ông không kìm nổi sự khẩn nài trong giọng mình. Idaho quan sát người Fremen. “Ông sẽ cho phép tôi làm theo các điều kiện này chứ Stilgar? Sẽ có những lúc tôi cần phải quay về phục vụ Công tước.” “Ông giỏi chiến đấu và đã làm hết sức

mình vì người bạn của chúng ta,” Stilgar nói. Ông nhìn Leto. “Thôi thì hãy thế này: Người đàn ông Idaho giữ lại con dao pha lê mà anh ta đang cầm như một biểu hiện cho lòng trung thành của anh ta đối với chúng tôi. Tất nhiên anh ta phải được làm cho tinh khiết và nghi lễ phải được tiến hành, nhưng điều này có thể thực hiện được. Anh ta sẽ vừa là người Fremen vừa là lính của Atreides. Có một tiền lệ cho việc này: Liet cũng phục vụ cho hai chủ.” “Thế nào Duncan?” Công tước hỏi. “Tôi hiểu, thưa Chúa công,” Idaho nói.

“Vậy thì điều này được tán thành,” Leto nói. “Nước của anh là của chúng ta, Duncan Idaho,” Stilgar nói. “Thân thể của người bạn chúng ta vẫn ở bên Công tước. Nước của anh ta là nước Atreides. Đó là giao ước giữa chúng ta.” Leto thở dài, liếc Hawat, bắt gặp ánh nhìn của vị Mentat già nua. Hawat gật đầu, nét mặt tỏ ý hài lòng. “Tôi sẽ đợi ở dưới trong lúc Idaho chào tạm biệt bạn bè,” Stilgar nói. “Turok là tên người bạn đã chết của chúng ta. Xin hãy nhớ điều đó khi đến lúc giải thoát

cho linh hồn anh ấy. Quý vị là bạn của Turok.” Stilgar bắt đầu quay ra. “Ông không ở lại một lúc nữa sao?” Leto hỏi. Người Fremen quay lại, hất khăn che mặt vào đúng chỗ bằng một động tác tự nhiên, điều chỉnh cái gì đó ở bên dưới nó. Paul thoáng thấy cái gì đó trông giống một cái ống mỏng trước khi chiếc khăn che mặt phủ vào đúng vị trí. “Có lý do nào để tôi ở lại không?” người Fremen hỏi.

“Chúng tôi muốn thể hiện lòng kính trọng đối với ngài,” Công tước nói. “Sự kính trọng đòi hỏi tôi nên sớm có mặt ở nơi khác,” người Fremen nói. Ông liếc nhìn Idaho lần nữa, quay người, rồi sải bước đi qua đội bảo vệ canh cửa. “Nếu những người Fremen khác tương xứng với ông ta thì chúng ta sẽ hỗ trợ nhau rất tốt đấy,” Leto nói. Idaho nói bằng giọng khô khốc: “Ông ta là mẫu điển hình đó, thưa Chúa công.” “Anh hiểu điều anh phải làm chứ

Duncan?” “Tôi là đại sứ mà ngài cử sang chỗ người Fremen, thưa Chúa công.” “Trông đợi cả vào anh đấy, Duncan ạ. Chúng ta sẽ cần ít nhất năm tiểu đoàn người Fremen trước khi bọn Sardaukar bất ngờ tấn công chúng ta.” “Về chuyện này sẽ cần làm vài việc, thưa Chúa công. Fremen là nhóm người rất độc lập.” Idaho ngập ngừng, rồi nói: “Và, thưa Ngài, còn một chuyện nữa. Một tên trong đám lính đánh thuê mà chúng ta hạ gục đã cố gắng lấy lưỡi dao này từ người bạn Fremen đã chết. Tên

lính đánh thuê này nói, gia tộc Harkonnen sẽ thưởng một triệu solari cho bất cứ ai mang về cho họ dù chỉ một con dao pha lê.” Leto ngước cằm lên, vẻ ngạc nhiên rõ rệt. “Tại sao bọn chúng lại muốn một trong những con dao đó đến thế?” “Con dao được mài từ răng sâu cát; nó là dấu hiệu của người Fremen, thưa Chúa công. Có nó, một người mắt xanh có thể xâm nhập vào bất cứ sietch nào trên xứ này. Bọn họ sẽ hỏi tôi trừ phi họ nhận ra tôi. Tôi không giống người Fremen. Nhưng...”

“Piter de Vries,” Công tước nói. “Một con người xảo trá gian tà, thưa Chúa công,” Hawat tiếp. Idaho đút nhanh con dao nằm trong vỏ vào dưới bộ quân phục. “Bảo vệ con dao đấy,” Công tước nói. “Tôi hiểu, thưa Ngài.” Anh ta vỗ nhẹ vào thiết bị thu phát tín hiệu trên bộ dây lưng. “Tôi sẽ báo cáo về trong thời gian sớm nhất. Thufir có mã liên lạc của tôi. Hãy sử dụng ngôn ngữ chiến trận.” Anh ta chào tạm biệt rồi quay người vội vã đi theo người Fremen.

Họ nghe tiếng bước chân anh ta nện thình thịch xuôi theo hành lang. Leto và Hawat nhìn nhau tỏ vẻ đầy thấu hiểu. Họ mỉm cười. “Chúng ta có nhiều việc phải làm, thưa Chúa công,” Halleck nói. “Còn ta sẽ tách ông ra khỏi công việc của ông,” Leto nói. “Tôi có báo cáo về những căn cứ tiền tiêu,” Hawat nói. “Tôi sẽ trình bày vào lúc khác chứ, thưa Chúa công?”

“Có mất nhiều thời gian không?” “Không thể trình bày tóm tắt được. Người Fremen kháo nhau rằng có hơn hai trăm căn cứ tiền tiêu xây dựng trên Arrakis này trong suốt thời kỳ Trạm Kiểm tra Thực vật Sa mạc. Nghe nói tất cả đều đã bị bỏ hoang, nhưng có nhiều báo cáo nói chúng được bịt kín trước khi bị bỏ hoang.” “Trong đó có thiết bị chứ?” Leto hỏi. “Theo những báo cáo tôi lấy từ Duncan.” “Chúng nằm ở đâu?” Halleck hỏi.

“Câu trả lời cho câu hỏi đó luôn luôn là: ‘Liet biết’,” Hawat nói. “Thượng đế biết,” Leto lẩm bẩm. “Có thể không, thưa Chúa công,” Hawat nói. “Ngài đã nghe ông Stilgar này nói đến cái tên đó. Có thể ông ta đang ám chỉ một người có thực chăng?” “Phục vụ hai chủ,” Halleck nói. “Nghe như một trích dẫn tôn giáo.” “Và ông nên biết,” Công tước nói. Halleck mỉm cười.

“Vị Phán quan Phụ trách Thay đổi này,” Leto nói, “nhà sinh thái học của Đế chế - Kynes... ông ta không biết những căn cứ đó ở đâu sao?” “Thưa Chúa công,” Hawat cảnh báo, “vị Kynes này là bầy tôi trung thành của Đế quốc.” “Nhưng ông ta đang ở xa Hoàng đế,” Leto nói. “Ta muốn những căn cứ này. Chắc hẳn chúng chứa rất nhiều vật liệu mà chúng ta có thể tận dụng để sửa chữa các thiết bị đang hoạt động của chúng ta.” “Công tước!” Hawat nói. “Xét về

phương diện pháp lý, những căn cứ này vẫn thuộc thái ấp của Hoàng đế.” “Khí hậu vùng này đủ khắc nghiệt để có thể phá hủy bất cứ thứ gì,” Công tước nói. “Lúc nào chúng ta cũng có thể đổ lỗi cho khí hậu. Hãy đi tìm vị Kynes đem về đây và ít nhất cũng cố tìm ra liệu những căn cứ này có thật hay không.” “ ‘... Trưng dụng chúng là nguy hiểm’,” Hawat nói. “Duncan đã nói rõ một điều: các căn cứ đó hay ý nghĩ về chúng có tầm quan trọng sâu xa nào đó đối với người Fremen. Chúng ta có thể sẽ khiến người Fremen xa lánh nếu chiếm lấy các căn cứ đó.”

Paul nhìn gương mặt những người xung quanh, quan sát mức độ cảm xúc của họ trong khi họ nghe từng lời nói. Có vẻ như họ bị xáo động dữ dội vì quan điểm của cha cậu. “Hãy lắng nghe ông ta, thưa Cha,” Paul nói khẽ. “Ông ấy sẽ nói sự thật.” “Thưa Chúa công,” Hawat nói, “những căn cứ đó có thể cho ta vật liệu để sửa chữa từng thiết bị mà nhà Harkonnen để lại cho ta, tuy nhiên chúng vẫn nằm ngoài tầm tay vì những lý do chiến lược. Nếu không tìm hiểu kỹ hơn mà lại hành động ngay thì thật thiếu suy nghĩ. Vị Kynes này

được Đế quốc trao toàn quyền hành động. Chúng ta không được quên điều này. Còn người Fremen thì tuân theo ông ấy.” “Nếu vậy hành động nhẹ nhàng thôi,” Công tước nói. “Ta chỉ muốn biết liệu những căn cứ đó có tồn tại không thôi.” “Sẽ theo ý ngài, thưa Chúa công.” Hawat ngồi xuống phía sau, cụp mắt xuống. “Vậy thì tốt rồi,” Công tước nói. “Chúng ta biết chúng ta có cái gì ở phía trước - công việc. Chúng ta đã được huấn luyện để làm việc. Chúng ta có vài kinh nghiệm trong việc này. Chúng ta biết

phần thưởng là gì và những lựa chọn thì cũng khá rõ rồi. Mỗi người trong các vị có nhiệm vụ của mình.” Ông nhìn Halleck. “Gurney, hãy xem xét tình hình tàu buôn lậu trước tiên.” “ ‘Tôi sẽ đi đến chỗ những người nổi loạn sống trên mảnh đất khô cằn này,’ ” Halleck ngâm nga. “Một ngày nào đó ta sẽ tóm được gã kia khi không có một câu trích dẫn nào và chừng đó ông ta chẳng khác nào không mặc áo quần vậy,” Công tước nói. Những tiếng cười kìm nén vang khắp bàn, nhưng Paul nhận thấy sự gượng gạo

trong những tiếng cười đó. Công tước quay sang Hawat. “Hãy thiết lập thêm một trạm chỉ huy để liên lạc và truyền tin ngay trên sàn này, Thufir. Khi nào mọi thứ đã sẵn sàng thì ta muốn gặp ông.” Hawat đứng dậy, liếc nhìn quanh phòng như thể tìm sự ủng hộ. Ông quay đi, dẫn đoàn người ra khỏi phòng. Những người khác lục tục đứng dậy, kéo ghế kèn kẹt trên sàn, tụm lại thành từng nhóm nhỏ đầy vẻ bối rối. Mọi chuyện kết thúc trong cơn bối rối, Paul nghĩ trong khi nhìn theo lưng những

người cuối cùng rời khỏi phòng. Từ trước đến nay, cuộc họp Ban tham mưu luôn kết thúc trong bầu không khí đầy quyết đoán. Nhưng cuộc họp này thì cứ dường như thẩm lậu ra ngoài, bị bào mòn bởi chính sự bất quyết, bất tự tin của nó, đã vậy còn thêm một cuộc tranh cãi nữa. Lần đầu tiên Paul tự cho phép mình nghĩ đến khả năng thực tế là họ sẽ thất bại - không nghĩ về nó vì sợ hãi hay vì những lời cảnh báo chẳng hạn như của Mẹ Chí tôn, mà đối mặt với khả năng đó bởi cách đánh giá của chính cậu về tình thế. Cha ta thật liều lĩnh, cậu nghĩ. Mọi chuyện sẽ không diễn ra tốt đẹp chút

nào cho chúng ta. Còn Hawat - Paul nhớ lại vị Mentat già đã hành động thế nào trong suốt cuộc họp - sự lưỡng lự khó thấy, những dấu hiệu bồn chồn lo lắng. Hawat rất băn khoăn lo lắng về chuyện gì đó. “Tốt nhất là con hãy nghỉ lại đây cho hết đêm, Con trai,” Công tước nói. “Dù sao thì cũng sắp bình minh rồi. Ta sẽ báo cho mẹ con biết.” Ông bước đi, chậm rãi, cương quyết. “Tại sao con không kê mấy cái ghế lại với nhau rồi nằm nghỉ một lát nhỉ.”

“Con không mệt lắm, thưa cha.” “Cứ làm như con muốn.” Công tước chắp tay sau lưng, bắt đầu đi đi lại lại dọc chiều dài chiếc bàn. Giống như một con thú bị giam cầm, Paul nghĩ. “Cha sẽ thảo luận với Hawat về khả năng có kẻ phản bội trong hàng ngũ chúng ta chứ?” Paul hỏi. Công tước đứng lại phía bên bàn đối diện con trai, nói với những khung cửa

sổ tối đen. “Chúng ta đã tranh luận về khả năng đó nhiều lần rồi.” “Bà già đó có vẻ rất tin chắc về những điều mình nói,” Paul nói. “Còn lời phán truyền mà Mẹ...” “Các biện pháp phòng ngừa đã được tiến hành,” Công tước nói. Ông nhìn quanh phòng, và Paul để ý thấy mắt ông như mắt con thú dữ bị săn đuổi... “Hãy ở lại đây. Có vài vấn đề về các trạm chỉ huy mà ta muốn thảo luận với Thufir.” Ông quay người, sải bước ra khỏi phòng, khẽ gật đầu với đội gác cửa. Paul nhìn chằm chằm vào chỗ cha cậu

vừa đứng. Cái khoảng không trống rỗng ngay cả khi Công tước chưa rời phòng. Cậu nhớ lại lời cảnh báo của bà lão: “... còn người cha, không cách gì cứu được.”

Vào cái ngày đầu tiên đó khi Muad’Dib cùng gia đình ngồi xe đi qua những con phố của Arrakeen, vài người dân ven đường đã nhớ lại những truyền thuyết và lời tiên tri, liền đánh liều hò reo: “Mahdi!” Nhưng tiếng hét của họ là một sự hoài nghi hơn là lời tuyên bố, vì cho đến lúc này họ chỉ có thể hy vọng cậu là người mà lời tiên tri nói là Lisan al-Gaib, Giọng nói Từ Thế giới Bên ngoài. Họ cũng tập trung chú ý đến người mẹ, bởi vì họ nghe nói bà là một Bene Gesserit và họ thấy hiển nhiên là bà giống như một Lisan al-Gaib khác.

- trích “Sách về Muad’Dib” của Công chúa Irulan Công tước tìm thấy Thufir Hawat đang ở một mình trong góc căn phòng mà người gác cửa chỉ cho ông. Có tiếng mọi người đang xếp đặt thiết bị liên lạc trong phòng kế bên, nhưng nơi này khá yên tĩnh. Công tước đưa mắt nhìn quanh khi Hawat hiện ra từ chiếc bàn bừa bộn giấy. Đó là một căn phòng có tường bao màu xanh, ngoài chiếc bàn ra còn có ba chiếc ghế treo mà chữ “H” nghĩa là Harkonnen trên đó vừa được người ta vội vàng xóa đi, để lại một mảng màu nhem nhuốc. “Những chiếc ghế này tuy lỏng lẻo nhưng

cũng khá an toàn,” Hawat nói. “Paul đâu rồi, thưa Chúa công?” “Ta để nó lại phòng họp. Ta hy vọng nó sẽ được nghỉ ngơi chút ít nếu không có ta ở đó làm nó sao lãng.” Hawat gật đầu, đi về phía cửa dẫn sang phòng kế bên, đóng lại, tách ra khỏi tiếng ồn của tia lửa điện và tiếng nhiễu tín hiệu. “Thufir này,” Leto nói, “Những kho dự trữ hương dược của Đế quốc và Harkonnen khiến ta chú ý.” “Là sao, thưa Chúa công?”

Công tước mím môi. “Những nhà kho ấy rất dễ phá hủy.” Ông đưa một tay lên khi Hawat định nói. “Bỏ qua kho dự trữ của Hoàng đế đi. Nếu bọn Harkonnen bị rắc rối thì ông ta sẽ ngầm vui sướng đấy. Và liệu tay Nam tước có thể tỏ ra chống đối nếu có cái gì đó bị phá hủy mà hắn ta không thể công khai thừa nhận nó là của mình không?” Hawat lắc đầu. “Chúng ta có rất ít người rảnh rỗi, thưa Chúa công.” “Hãy dùng người của Idaho. Có lẽ vài người Fremen sẽ thích một cuộc du ngoạn ngoài hành tinh. Một cuộc đột kích

trên Giedi Prime - có những lợi thế chiến lược đối với một trò nghi binh như thế, Thufir ạ.” “Xin làm theo lời ngài, thưa Chúa công.” Hawat quay đi, và Công tước nhận thấy dấu hiệu bồn chồn lo lắng của ông già này, liền nghĩ: Có thể ông ấy ngờ rằng ta không tin ông ấy. Ông ấy phải biết rằng ta có báo cáo mật về những tên phản bội. Thế đấy- tốt nhất là ngay lập tức làm lắng dịu nỗi sợ hãi của ông ấy. “Thufir này,” ông nói, “vì ông là một trong số rất ít người ta có thể tin tưởng tuyệt đối, có một vấn đề khác cần thảo luận. Cả hai ta đều biết phải luôn canh

phòng nghiêm ngặt như thế nào để ngăn chặn những tên phản bội len lỏi vào lực lượng của chúng ta... nhưng ta có hai bản báo cáo mới.” Hawat quay lại, nhìn ông chằm chằm. Leto kể lại những chuyện Paul đã kể cho ông nghe. Đáng lẽ phải làm cho vị Mentat tập trung cao độ thì bản báo cáo lại chỉ làm tăng thêm sự lo âu của Hawat. Leto quan sát ông, rồi nói ngay: “Ông đang che giấu chuyện gì đó, ông bạn già. Lẽ ra tôi đã phải nghi ngờ khi thấy ông lo

lắng đến vậy trong suốt cuộc họp Ban tham mưu. Có vấn đề gì mà lại quá gay gắt đến mức ông không thể trút ra trước đông đủ bàn họp như vậy?” Đôi môi nhuộm màu sapho của Hawat mím lại nghiêm nghị, thành một đường thẳng với những nếp nhăn nhỏ xíu châu vào chúng. Khi ông nói, chúng vẫn giữ nguyên những nếp nhăn cứng nhắc: “Thưa Chúa công, tôi không rõ phải bắt đầu chuyện này như thế nào.” “Chúng ta đã cùng nhau trải qua nhiều nỗi đau, Thufir,” Công tước nói. “Ông biết ông có thể đề cập đến bất cứ chuyện gì với tôi mà.”

Hawat vẫn nhìn ông chằm chằm, suy nghĩ: Đây là lý do ta thích ông ấy nhất. Đây là một người đáng trọng, người xứng đáng với tất cả lòng trung thành và sự phục vụ của ta. Tại sao ta phải làm tổn thương ông ấy? “Thế nào?” Leto hỏi gặng. Hawat nhún vai. “Nó là một mẩu thư nhỏ. Chúng tôi lấy nó từ người liên lạc Harkonnen. Bức thư gửi cho một đặc vụ có tên là Pardee. Chúng tôi có lý do chính đáng để tin rằng Pardee là người đứng đầu tổ chức bí mật Harkonnen ở đây. Bức thư - nó có thể mang tầm quan

trọng lớn lao mà cũng có thể không. Nó dễ bị hiểu theo nhiều cách khác nhau.” “Nội dung tế nhị của bức thư này là gì?” “Một mẩu thư thôi, thưa Ngài. Không hoàn chỉnh. Nó được viết trên phim minimic có kèm viên nang tự hủy thông thường. Chúng tôi đã làm ngưng tác động bằng axít ngay trước lúc bức thư sắp bị xóa sạch, chỉ còn lại một mẩu nhỏ. Tuy nhiên cái mẩu còn lại đó lại gợi mở nhiều điều.” “Sao?” Hawat xoa môi. “Nó nói: ‘... eto sẽ

không bao giờ nghi ngờ, và khi cú đòn ập xuống ông ta từ bàn tay yêu dấu, chỉ một đòn ấy thôi cũng đủ hạ gục ông ta.’ Bức thư có đóng dấu của chính Nam tước và tôi vừa xác nhận con dấu đó.” “Sự nghi ngờ của ông rất rõ ràng,” Công tước nói, và giọng ông bất ngờ trở nên lạnh lẽo. “Tôi thà chặt tay mình đi còn hơn là làm Ngài tổn thương,” Hawat nói. “thưa Chúa công, giá như...” “Lệnh bà Jessica,” Leto nói, và ông cảm thấy cơn tức giận bừng bừng thiêu đốt ông. “Ông không thể moi được sự thật từ

tên Pardee này à?” “Thật không may, khi chúng tôi chặn được gã đưa thư thì tên Pardee không còn sống nữa. Tôi tin chắc gã đưa thư đó chẳng biết hắn đang mang cái gì đâu.” “Ta hiểu.” Leto lắc đầu, nghĩ: “Thật là một mẩu chuyện nhơ nhớp. Chẳng có gì đúng trong đấy cả. Ta hiểu người phụ nữ của ta.” “Thưa Chúa công, liệu...” “Không!” Công tước quát lên. “Có một

sai lầm ở đây...” “Chúng ta không thể phớt lờ chuyện này, thưa Ngài.” “Cô ấy đã ở với ta mười sáu năm trời! Có vô số cơ hội để... Chính ông đã điều tra ngôi trường và người phụ nữ ấy!” Hawat chua chát nói: “Người ta cũng biết xưa nay từng có những chuyện mà tôi không phát hiện ra.” “Không thể như thế được, ta nói cho ông biết! Bọn Harkonnen muốn tiêu diệt dòng họ Atreides - cũng có nghĩa là Paul. Bọn chúng đã thử một lần rồi. Có

thể nào một người đàn bà lại âm mưu sát hại chính con trai mình?” “Có thể cô ấy không âm mưu sát hại con mình. Và vụ tấn công ngày hôm qua có thể là một sự giả vờ khôn khéo.” “Không thể là giả vờ được.” “Thưa Chúa công, cô ấy không được người ta cho biết cha mẹ mình là ai, nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu cô ấy biết? Điều gì sẽ xảy ra nếu cô ấy là một đứa trẻ mồ côi, hay nói cách khác là bị một người trong họ Atreides làm cho mồ côi?”

“Lẽ ra cô ấy phải hành động từ lâu rồi mới phải. Chất độc trong đồ uống của ta... con dao găm nhỏ trong đêm. Ai có cơ hội tốt hơn đây?” “Bọn Harkonnen định hủy hoại Ngài, thưa Chúa công. Mục đích của bọn chúng không chỉ là giết người thôi đâu. Có một loạt những khác biệt tinh tế trong kanly. Đây có thể là cả một tác phẩm nghệ thuật trong số những mối thù máu.” Đôi vai Công tước sụp xuống. Ông nhắm mắt, trông già nua và mệt mỏi. Không thể thế được, ông nghĩ. Người phụ nữ ấy đã mở cánh cửa trái tim của cô ấy cho ta.

“Có cách nào hủy hoại ta hay hơn cách gieo sự nghi ngờ vào người đàn bà ta yêu?” ông hỏi. “Tôi vừa nghĩ ra một cách giải thích,” Hawat nói. “Tuy nhiên...” Công tước mở mắt, nhìn chằm chằm vào Hawat mà nghĩ: Cứ mặc cho ông ấy nghi ngờ. Nghi ngờ là nghề của ông ấy, không phải của ta. Có lẽ nếu ta tỏ vẻ tin vào chuyện này, điều đó sẽ khiến một người khác sơ suất. “Ông nghĩ ra điều gì?” Công tước thì thầm.

“Từ bây giờ sẽ giám sát liên tục, thưa Chúa công. Cô ấy sẽ bị canh chừng mọi nơi mọi lúc. Tôi sẽ bảo đảm thực hiện việc này một cách kín đáo. Idaho là lựa chọn lý tưởng cho công việc này. Có lẽ quãng một tuần nữa chúng ta có thể đưa anh ấy về. Có một thanh niên đang được huấn luyện trong đơn vị của Idaho có thể là người lý tưởng để chúng ta cử đến chỗ người Fremen thay cho Idaho. Anh ta là người có khiếu ngoại giao.” “Đừng gây nguy hiểm cho vị trí chắc chắn của chúng ta bên người Fremen.” “Tất nhiên là không rồi, thưa Chúa

công.” “Thế còn Paul thì sao?” “Có lẽ chúng ta nên cảnh báo bác sĩ Yueh.” Leto quay lưng lại Hawat. “Ta giao việc này vào tay ông.” “Tôi sẽ hành động thật thận trọng, thưa Chúa công.” Ít nhất ta còn có thể hy vọng vào điều đó, Leto nghĩ. Ông nói: “Bây giờ ta sẽ đi dạo, nếu ông cần gặp ta, ta chỉ quanh quẩn gần đây thôi. Đội bảo vệ có thể...”

“Thưa Chúa công, trước khi ngài đi, tôi có một đoạn phim mà ngài nên xem. Đó là bản phân tích gần đúng đầu tiên về tôn giáo Fremen. Ngài chắc hẳn còn nhớ ngài đã yêu cầu tôi báo cáo về chuyện này.” Công tước dừng bước, ông nói mà không quay lại. “Việc này không để sau được sao?” “Tất nhiên là không rồi, thưa Chúa công. Ngài đã hỏi họ hét cái gì vậy. Đó là ‘Mahdi!’ Họ hướng cái từ này vào cậu chủ trẻ. Khi họ...”

“Vào Paul ư?” “Đúng vậy, thưa Chúa công. Ở nơi này họ có một truyền thuyết, một lời tiên tri, rằng một thủ lĩnh, người con của một Bene Gesserit, sẽ đến với họ để dẫn dắt họ giành lấy tự do đích thực. Chuyện này theo đúng khuôn mẫu quen thuộc về đấng cứu tinh.” “Họ nghĩ Paul là đấng... đấng...” “Họ chỉ hy vọng thôi, thưa ngài.” Hawat đưa ra một chiếc hộp đựng trích đoạn phim. Công tước cầm lấy, nhét vào túi. “Ta sẽ

xem sau.” “Tất nhiên rồi, thưa Chúa công.” “Bây giờ, ta cần thời gian để... suy nghĩ.” “Vâng, thưa Chúa công.” Công tước thở dài sườn sượt, sải bước qua cánh cửa. Ông rẽ phải xuống đại sảnh, bắt đầu đi dạo, tay chắp sau lưng, chẳng mấy quan tâm mình đang ở đâu. Có các hành lang, cầu thang, ban công, tiền sảnh... những người cúi chào và đứng về một phía nhường lối cho ông. Cuối cùng ông quay lại phòng họp, nhận

thấy căn phòng chìm trong bóng tối và Paul đang nằm ngủ trên bàn, đắp áo choàng của một người bảo vệ, một chiếc túi đựng đồ lặt vặt kê làm gối. Công tước bước thật nhẹ dọc căn phòng rồi đi ra ngoài ban công nhìn xuống sân đáp. Một người bảo vệ đứng ở góc ban công, nhận ra Công tước nhờ ánh sáng yếu ớt phản chiếu từ sân đáp, liền vội vã đứng nghiêm. “Nghỉ!” Công tước thì thầm. Ông dựa vào thành lan can bằng kim loại lạnh lẽo. Sự im lặng trước lúc rạng đông bao trùm vùng lòng chảo sa mạc. Ông ngước mắt lên. Ngay trên đầu ông, dải ngôi sao như

chiếc khăn choàng lấp lánh những đồng xu bạc phủ trùm lên màu xanh đen. Ở dưới thấp nơi chân trời phía Nam, mặt trăng thứ hai của đêm ló ra qua màn bụi mỏng - một mặt trăng hoài nghi nhìn ông với ánh sáng đầy ngờ vực. Trong khi Công tước ngắm nhìn, mặt trăng lặn xuống dưới những vách đá Tường Chắn, rắc ánh sáng bạc như sương giá lên mặt đá, và trong bóng đêm đột nhiên đen đặc, ông cảm thấy ớn lạnh. Ông rùng mình. Cơn giận dữ vụt qua ông. Đây sẽ là lần cuối bọn Harkonnen cản

trở, săn đuổi và lùng sục ta, ông nghĩ. Bọn chúng là một đống phân với cái não trạng của tay lý trưởng nhà quê. Ở đây ta sẽ gây dựng chỗ đứng cho mình! Và ông nghĩ với chút đau buồn: Ta phải thống trị bằng mắt và móng vuốt - như con chim ưng ở giữa những con chim bé hơn. Vô tình bàn tay ông chạm nhẹ vào huy hiệu con chim ưng trên ngực áo. Phía Đông, bóng tối ngả sang màu xám nhạt, rồi thành màu trắng đục như vỏ ốc làm các ngôi sao mờ dần. Bình minh từ từ ló dạng báo hiệu một ngày mới, dần tỏa sáng ngang qua đường chân trời nhấp nhô.

Một khung cảnh thật đẹp, thu hút toàn bộ sự chú ý của ông. Có vài thứ giống nhau khôn tả, ông nghĩ. Ông chưa bao giờ tưởng tượng ra ở nơi đây có bất cứ thứ gì có thể đẹp như đường chân trời đỏ lởm chởm và những vách núi màu tía, màu hoàng thổ đó. Phía ngoài sân đáp nơi màn sương đêm mờ nhạt đã mang lại sự sống và thúc cho hạt giống của Arrakis sớm đâm chồi, ông nhìn thấy những vũng nước lớn ngập tràn hoa đỏ, và chạy ngang qua chúng là một vết tím rõ mồn một... như những dấu chân của người khổng lồ.

“Thật là một buổi sáng tươi đẹp, thưa Chúa công,” người bảo vệ nói. “Đúng thế, thật tươi đẹp.” Công tước gật đầu nghĩ: Có lẽ hành tinh này có thể đơm hoa kết trái. Nó có thể là một mái ấm cho con trai ta. Rồi ông thấy những bóng người đi vào những cánh đồng hoa, dùng các thiết bị lạ lùng giống như chiếc hái mà quét qua quét lại - những người gom sương. Ở đây nước quý giá đến mức thậm chí sương cũng phải gom lại.

Và nó có thể là một nơi chẳng dễ chịu gì, Công tước nghĩ.

Có lẽ không khoảnh khắc bừng ngộ nào đáng sợ hơn khoảnh khắc ta khám phá ra rằng cha ta là một con người - với xương thịt con người.” - trích “Tuyển dụ ngôn của Muad’Dib” của Công chúa Irulan Công tước nói: “Paul này, cha đang làm một việc đáng ghét, nhưng cha buộc phải làm.” Ông đứng gần chiếc máy dò độc dược xách tay đã được mang vào phòng họp từ lúc họ ăn sáng. Những cánh tay cảm biến của chiếc máy treo mềm oặt phía trên bàn, khiến Paul liên tưởng tới

mấy con sâu kỳ lạ vừa mới chết. Công tước hướng sự chú ý vào sân đáp tàu ngoài cửa sổ và đám bụi mù mịt tương phản với bầu trời sớm mai. Trước mặt Paul có một máy xem phim đèn chiếu chứa đoạn phim ngắn về những phong tục tôn giáo Fremen. Một trong những chuyên gia của Hawat đã biên soạn nó và Paul nhận thấy chính cậu cũng bối rối vì nó có nhắc tới cậu. “Mahdi!” “Lisan al-Gaib!”

Cậu có thể nhắm mắt mà nhớ lại tiếng hò hét của đám đông. Vậy ra đó chính là cái họ hy vọng, cậu nghĩ. Và cậu nhớ lại điều Mẹ Chí tôn đã nói: Kwisatz Haderach. Những ký ức đó khơi dậy cảm xúc của cậu về cái mục đích kinh khủng, trùm lên thế giới xa lạ này những cảm giác quen thuộc mà cậu không thể hiểu. “Một việc đáng ghét,” Công tước nói. “Cha muốn nói gì vậy, thưa cha?” Leto quay lại nhìn con. “Vì bọn Harkonnen tưởng có thể đánh lừa được cha bằng cách làm cha nghi ngờ mẹ con. Bọn chúng không biết ta đã sớm nghi ngờ

chính mình.” “Con không hiểu, thưa cha.” Leto lại nhìn ra ngoài cửa sổ. Mặt trời trắng đã đi được một phần tư đoạn đường buổi sáng. Ánh sáng trắng ngà soi rõ những đám bụi sôi sục tràn vào các hẻm núi cụt đan cài với Tường Chắn. Chầm chậm, nói thật khẽ để kiềm chế cơn giận, Công tước giải thích cho Paul về bức thư bí ẩn. “Giá mà cha nghi ngờ con thì tốt hơn,” Paul nói.

“Chắc bọn chúng nghĩ là đã thành công,” Công tước nói. “Chắc bọn chúng tưởng cha là kẻ ngu ngốc lắm. Chúng ta phải làm cho nó giống như thật vậy. Ngay cả mẹ con cũng không được phép biết sự giả vờ này.” “Nhưng, thưa cha! Tại sao ạ?” “Mẹ con không được phản ứng bằng cách hành động. Ôi, mẹ con có khả năng đưa ra hành động quan trọng nhất... nhưng có quá nhiều điều tùy thuộc vào hành động đó. Ta hy vọng sẽ phát hiện ra tên phản bội. Nên ta phải ra vẻ như đã hoàn toàn bị đánh lừa. Cách này ắt làm mẹ con tổn thương, nhưng là để cô ấy

không phải chịu tổn thương lớn hơn.” “Tại sao cha lại cho con biết, thưa Cha? Có thể con sẽ để lộ chuyện này.” “Trong chuyện này bọn chúng sẽ không canh chừng con,” Công tước nói. “Con hãy giữ bí mật. Con phải làm thế.” Ông đi ra chỗ cửa sổ, nói mà không quay lại. “Làm theo cách này thì nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra với cha, con có thể kể sự thật cho mẹ con - rằng ta không bao giờ nghi ngờ mẹ con, dù là trong chốc lát. Ta muốn mẹ con biết điều đó.” Paul nhận ra những suy nghĩ chết chóc trong lời nói của cha, cậu nói nhanh: “Sẽ

không có chuyện gì xảy ra với cha. Cái...” “Đừng nói nữa, Con trai.” Paul nhìn chằm chằm vào lưng cha, nhận ra sự mệt mỏi trong tư thế của cổ, đường nét của đôi vai và những cử động chậm chạp của ông. “Cha chỉ mệt thôi, thưa Cha.” “Ta có mệt,” Công tước đồng ý. “Ta mệt mỏi về tinh thần. Có lẽ rốt cuộc sự suy thoái đáng buồn của các Đại Gia tộc đã làm ta u uất. Thế mà trước đây chúng ta thật hùng mạnh biết bao.”

Paul nói trong sự giận dữ: “Gia tộc của chúng ta không suy thoái!” “Không ư?” Công tước quay lại, đối diện với con trai, đôi mắt nghiêm khắc lộ rõ quầng thâm, miệng nhếch lên vẻ hoài nghi. “Lẽ ra ta nên cưới mẹ con, để mẹ con trở thành Công tước Phu nhân. Nhưng... tình trạng chưa vợ của ta mang đến cho một số Gia tộc niềm hy vọng rằng họ vẫn có thể kết thông gia với ta nhờ những đứa con gái đủ tuổi kết hôn của họ.” Ông nhún vai. “Vì vậy, ta...”

“Mẹ đã giải thích chuyện này với con.” “Không gì chiếm được lòng trung thành dành cho một thủ lĩnh hơn dáng vẻ anh hùng đảm lược,” Công tước nói. “Vì vậy, ta đang rèn luyện dáng vẻ anh hùng đảm lược.” “Cha chỉ huy rất cừ,” Paul xác nhận. “Cha cai trị rất giỏi. Mọi người tự nguyện đi theo cha và họ yêu cha.” “Lực lượng tuyên truyền của ta là một trong những đơn vị xuất sắc nhất.” Công tước nói. Ông lại quay người nhìn ra lòng chảo. “Ở Arrakis này, tiềm năng dành cho chúng ta lớn hơn nhiều so với

dự tính của Đế quốc. Tuy nhiên có những lúc ta nghĩ nếu chúng ta chạy trốn, trở thành kẻ phản loạn thì sẽ tốt hơn. Thỉnh thoảng ta ước chúng ta có thể hòa mình vào mọi người, không ai biết ta là ai, bớt phơi bày ra...” “Cha!” “Phải, ta mệt mỏi rồi,” Công tước nói. “Con có biết chúng ta đang sử dụng bã hương dược làm nguyên liệu thô và đã có nhà máy sản xuất giấy phim của chính chúng ta không?” “Sao cơ?”

“Chúng ta không được để thiếu giấy phim,” Công tước nói. “Nếu không, làm sao ta có thể làm cho từng làng mạc, từng thành phố tràn ngập thông tin của chúng ta? Người dân phải biết cha cai trị họ giỏi đến thế nào. Làm sao họ biết nếu chúng ta không nói cho họ?” “Cha nên nghỉ một chút,” Paul nói. Một lần nữa, Công tước nhìn thẳng vào mặt con trai. “Arrakis còn có một lợi thế nữa mà cha hầu như đã quên mất không nhắc tới. Thứ gì ở xứ này cũng đều có hương dược. Con hít lấy hương dược và ăn nó gần như từ tất cả mọi thứ. Và cha phát hiện ra rằng điều này đã đem đến

một sự miễn dịch tự nhiên nào đó đối với một số độc dược phổ biến nhất có tên trong Sổ tay Sát thủ. Và cái nhu cầu theo dõi sát sao mỗi một giọt nước khiến cho mọi ngành sản xuất thực phẩm - cấy men bia, trồng cây trong nước, chemavit, tất tần tật - đều bị giám sát nghiêm ngặt. Chúng không thể giết sạch các bộ phận dân cư đông đúc của chúng ta bằng chất độc, và chúng ta cũng không thể bị tấn công theo cách này. Arrakis khiến chúng ta biết phân biệt phải trái và hành xử đúng đắn.” Paul định nói, nhưng Công tước đã chặn lại để nói tiếp: “Cha phải có một ai đó để nói những chuyện này, Con ạ.” Ông

thở dài, nhìn lại quang cảnh khô cằn mà giờ đây đến cả hoa cũng đã chết - bị giẫm nát dưới chân những người góp sương, héo rũ dưới mặt trời sớm mai. “Ở Caladan, chúng ta cai trị bằng sức mạnh của không khí và biển,” Công tước nói. “Còn ở đây, chúng ta phải quờ quạng tìm kiếm sức mạnh sa mạc. Con phải tiếp tục việc này, Paul ạ. Con sẽ ra sao nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra với cha? Con sẽ không phải một Gia tộc phản loạn, mà là một Gia tộc du kích - chạy trốn, bị săn đuổi.” Paul mò mẫm tìm lời, nhưng không tìm được câu nào để nói. Cậu chưa bao giờ

thấy cha nản lòng đến thế. “Để giữ Arrakis,” Công tước nói, “người ta phải đối mặt với những quyết định có thể khiến họ phải trả giá bằng chính lòng tự trọng của mình.” Ông chỉ ra ngoài cửa sổ tới chỗ ngọn cờ Atreides xanh đen treo lả lướt trên một cây cột ở rìa sân đáp. “Cái ngọn cờ danh giá kia có thể dẫn đến nhiều chuyện xấu xa.” Paul nuốt khan. Những lời của cha cậu thật vô nghĩa, một cảm thức về định mệnh khiến cậu nghe trống rỗng trong lồng ngực. Công tước lấy một viên thuốc chống mệt

mỏi từ trong túi ra rồi nuốt luôn không uống nước. “Sức mạnh và nỗi sợ hãi,” ông nói. “Những công cụ của thuật trị quốc. Ta phải ra lệnh cho họ chú trọng hơn đến việc đào tạo thuật du kích cho con. Cái đoạn phim ở đằng kia - bọn họ gọi con là ‘Mahdi’ - ‘Lisan al-Gaib’ - con có thể lợi dụng nó, như một phương sách cuối cùng.” Paul nhìn cha chăm chú, quan sát đôi vai cha thẳng hơn lên khi viên thuốc phát huy tác dụng, nhưng nhớ lại những lời nói đầy sợ hãi và hoài nghi. “Nhà sinh thái học đang nắm giữ cái gì vậy?” Công tước thì thầm. “Ta đã bảo

Thufir sớm đưa ông ta đến đây.”

Một hôm, cha ta, Hoàng đế Padishah, cầm lấy tay ta, và theo những cách mà mẹ đã dạy ta, ta cảm thấy cha đang bối rối. Cha dẫn ta xuống Sảnh Chân dung nơi có bức chân ngã ảnh của Công tước Leto Atreides. Ta chú ý đến sự giống nhau đặc biệt giữa họ - cha ta và người đàn ông trong tranh - cả hai đều có gương mặt gầy, tao nhã, đôi mắt lạnh lẽo nổi bật trên những đường nét sắc nhọn. “Này Công chúa con,” cha ta nói, “ta muốn con trưởng thành hơn vào thời điểm người đàn ông này chọn vợ.” Hồi đó cha ta bảy mươi mốt tuổi nhưng trông

ông không già hơn người đàn ông trong ảnh, còn ta mới mười bốn tuổi, tuy nhiên ta vẫn nhớ ngay lúc ấy mình đã suy đoán rằng cha ta thầm ước Công tước là con ông, và ông căm ghét những lý do chính trị cần thiết đã khiến họ thành kẻ thù. - trích “Trong Gia tộc cha ta” của Công chúa Irulan Cuộc chạm trán đầu tiên giữa Tiến sĩ Kynes và những người mà ông được lệnh phải phản bội đã khiến ông sửng sốt. Ông tự hào rằng mình là một nhà khoa học mà đối với ông truyền thuyết chẳng qua là các đầu mối thú vị chỉ dẫn tới những cội

nguồn văn hóa. Tuy nhiên cậu bé khớp với lời tiên tri cổ một cách quá ư chính xác. Nó có “đôi mắt dò hỏi”, và cái kiểu cách “vừa thẳng thắn vừa kín đáo”. Tất nhiên lời tiên tri vẫn có chỗ mơ hồ, nó không nói rõ Mẹ Tạo hóa sẽ mang Nhà tiên tri theo với Người hay sẽ tạo ra Nhà tiên tri trên sân khấu. Tuy nhiên, có một sự tương ứng kỳ quặc giữa lời tiên tri với những người này. Họ gặp nhau vào giữa buổi sáng bên ngoài tòa nhà hành chính của sân đáp tàu. Một chiếc tàu chim chẳng có gì đáng chú ý đậu gần đấy, kêu vo vo ở chế độ trực chiến giống như con sâu buồn ngủ. Một

vệ sĩ Atreides đứng cạnh nó, gươm tuốt trần, lá chắn bảo vệ gây nhiễu loạn nhẹ bầu không khí quanh anh ta. Kynes nhếch mép cười trước cái mẫu hình lá chắn đó, ông nghĩ: Ở điểm này thì Arrakis có một sự ngạc nhiên dành cho họ đây! Nhà sinh thái học giơ tay ra hiệu cho đội bảo vệ Fremen của ông rút lui. Ông sải bước về phía lối vào tòa nhà - một cái lỗ tối om trên mặt đá phủ nhựa. Quá lộ liễu, cái tòa nhà bằng đá nguyên khối này, ông nghĩ. Thật không phù hợp cho một sào huyệt.

Những chuyển động ở lối vào thu hút sự chú ý của ông. Ông dừng lại, tranh thủ lúc này để chỉnh áo choàng và bộ sa phục nơi vai trái. Cánh cửa ra vào mở rộng ra. Đội bảo vệ Atreides xuất hiện nhanh như chớp, tất cả đều trang bị vũ khí đến tận răng - nào là súng bắn phi tiêu chậm, nào gươm, nào tấm chắn. Từ đằng sau họ một người đàn ông cao lớn bước ra, nét mặt chim ưng, da và tóc sẫm màu. Ông ta mặc áo choàng jubba có phù hiệu Atreides trên ngực, và cái cách ông ta mặc nó đã tiết lộ rằng ông ta không quen với loại quần áo này. Nó dính sát vào hai bên ống quần bộ sa phục, thiếu sự nhịp nhàng đu đưa

theo bước chân. Đi bên cạnh người đàn ông là một thiếu niên có mái tóc sẫm màu giống ông ta, nhưng khuôn mặt tròn hơn. Cậu thiếu niên có vẻ nhỏ con so với cái tầm mười lăm mà Kynes biết vốn là tuổi cậu. Nhưng thân hình trẻ trung đó mang dáng vẻ chỉ huy, toát lên sự tự tin đĩnh đạc, như thể cậu ta nhìn và thấu hiểu mọi chuyện xung quanh trong khi những người khác thì không. Cậu mặc áo choàng cùng kiểu với áo người cha, tuy nhiên sự thoải mái ung dung khiến người ta nghĩ cậu bé đó vẫn luôn mặc những kiểu quần áo như thế. “Mahdi sẽ ý thức về những thứ mà

người khác không thể nhìn thấy,” lời tiên tri nói. Kynes lắc đầu, tự nhủ: Bọn họ chỉ là con người thôi. Đến cùng hai người này, cũng mặc quần áo sa mạc giống họ, còn có một người mà Kynes nhận ra - Gurney Halleck. Kynes hít một hơi sâu để làm lắng dịu nỗi oán giận dành cho Halleck, người đã chỉ dẫn tường tận cho ông biết phải cư xử như thế nào đối với Công tước và người thừa kế tước Công. “Ông có thể gọi Công tước là ‘thưa Chúa công’ hoặc ‘Thưa Ngài’. ‘Tôn

ông’ cũng được, nhưng cách xưng hô này thường dùng trong những trường hợp trang trọng hơn. Cậu con trai thì có thể gọi là ‘Thiếu chủ’ hoặc ‘Công tử’. Công tước là người khoan dung, nhưng ngài không cho phép có chút suồng sã nào.” Và Kynes nghĩ trong lúc quan sát nhóm người tiến lại gần: Họ sẽ sớm biết trên Arrakis ai mới là chủ. Ra lệnh lão Mentat kia tra vấn ta suốt cả nửa đêm ư? Trông chờ ta dẫn họ đi khảo sát mỏ khai thác hương dược ư? Ý nghĩa trong những câu hỏi của Hawat bám riết lấy Kynes. Họ muốn các căn cứ

của Đế quốc. Và rõ ràng họ biết về các căn cứ đó nhờ Idaho. Ta sẽ buộc Stilgar gửi đầu Idaho đến cho lão Công tước này, Kynes tự nhủ. Nhóm người của Công tước chỉ còn cách vài bước, những đôi chân xỏ bốt sa mạc nghiến lạo xạo trên cát. Kynes cúi mình. “Xin kính chào Công tước.” Trong khi tiến lại gần người đàn ông đứng đơn độc bên chiếc tàu chim, Leto quan sát ông ta: cao, gầy, áo choàng sa mạc rộng lùng thùng, mặc sa phục, đi bốt

cổ thấp. Mũ trùm đầu của người đàn ông lật ra sau, khăn che mặt lơ lửng một bên mũ, để lộ mái tóc hung dài, bộ râu lơ thơ. Đôi mắt màu-xanh-trong-màu-xanh khó dò hỏi dưới hàng lông mày rậm.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 16

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!