phần của cậu.
Jamis hô to lời thách đấu theo nghi thức: “Cầu cho con dao của mi sứt mẻ và vỡ ra từng mảnh!” Chừng đó thì con dao này sẽ gãy, Paul nghĩ. Cậu tự cảnh báo mình rằng bản thân Jamis cũng không có tấm chắn, nhưng người này chưa hề được huấn luyện để dùng tấm chắn, không có những hạn chế của một chiến binh quen dùng tấm chắn. Paul nhìn chòng chọc vào Jamis phía bên kia vòng giao đấu. Cơ thể người đàn ông trông như một cuộn roi bện thành từng gút trên một bộ xương khô. Dao pha lê
của anh ta lấp loáng màu vàng sữa dưới ánh sáng những quả đèn cầu. Nỗi sợ tràn qua người Paul. Đột nhiên cậu cảm thấy mình cô đơn, đứng trần truồng dưới ánh sáng vàng đùng đục giữa vòng người này. Linh giác đã cho cậu biết được vô vàn trải nghiệm, nói bóng gió về những dòng chảy mạnh nhất của tương lai và những chuỗi quyết định dẫn dắt các dòng chảy đó, nhưng đây là thực tại-lúc này. Đây là cái chết treo lơ lửng trên một con số vô tận những rủi ro cực tiểu. Cậu nhận ra rằng bất cứ cái gì cũng có thể làm lệch chuyển tương lai ở đây. Ai
đó húng hắng ho trong đám đông những kẻ quan sát, một sự sao nhãng. Một biến thiên trong độ sáng của một quả cầu, một bóng đen lừa dối. Mình sợ, Paul tự nhủ. Và cậu thận trọng đi vòng quanh sàn đấu, đối diện Jamis, lặng lẽ nhắc lại với chính mình lời khấn Bene Gesserit để chống lại nỗi sợ. “Nỗi sợ hãi giết chết tâm trí...” Nó như một làn nước mát dội lên người cậu. Cậu cảm thấy cơ bắp tự bung mở ra, trở nên cân bằng, sẵn sàng. “Ta sẽ đút dao ta vào máu của mi,” Jamis gầm gừ. Và từ cuối cùng chưa dứt
thì anh ta đã thình lình xông tới. Jessica nhìn thấy động tác đó, cố nén một tiếng thét. Ở vị trí nơi Jamis ra đòn giờ chỉ còn là không khí, còn Paul thì đứng sau lưng anh ta, vừa gọn trong tầm tấn công trước tấm lưng trần của đối phương. Đâm đi Paul! Đâm ngay! Jessica thét lên trong tâm tưởng. Động tác của Paul được hãm chậm, uyển chuyển đẹp mắt, nhưng quá chậm khiến Jamis đủ thời giờ quay ngoắt lại, tung đòn đỡ và xoay sang phải.
Paul lùi lại, cúi thấp xuống. “Trước tiên mi phải tìm ra máu của ta đã,” cậu nói. Jessica nhận ra khả năng tính toán thời gian của một chiến binh quen dùng tấm chắn ở con trai, và nàng chợt nghĩ ra rằng đó là con dao hai lưỡi. Những phản ứng của cậu là phản ứng của tuổi trẻ, được rèn luyện đến một đỉnh cao mà những người kia chưa bao giờ biết tới. Nhưng đòn tấn công cũng đã được rèn luyện, sao cho thích ứng với yêu cầu phải xuyên thủng tấm chắn. Nếu đòn tấn công quá nhanh, tấm chắn sẽ đẩy bật ra; nhưng một đòn phản công chậm rãi, đánh lừa thì lại lọt qua. Phải biết làm chủ tình
thế và phải thủ đoạn thì mới xuyên được tấm chắn. Paul có hiểu điều đó không? nàng tự hỏi. Nó phải hiểu! Jamis lại tấn công, cặp mắt sẫm như màu mực sáng quắc, thân hình anh ta như một khối mờ màu vàng dưới những quả đèn cầu. Và một lần nữa Paul chuội thoát nhanh như cắt, rồi phản công quá chậm. Một lần nữa. Lại một lần nữa.
Cứ mỗi lần, đòn phản công của Paul lại chậm một khoảnh khắc. Và Jessica nhìn thấy một điều nàng hy vọng Jamis không thấy. Các phản ứng phòng thủ của Paul nhanh như chớp, nhưng lần nào chúng cũng chuyển động theo đúng góc độ mà lẽ ra chúng phải theo nếu như có một tấm chắn làm chệch hướng phần nào đòn tấn công của Jamis. “Con trai bà đang đùa với thằng ngu tội nghiệp đó à?” Stilgar hỏi. Jessica chưa kịp trả lời thì ông ta đã vẫy tay ra hiệu nàng im lặng. “Xin lỗi; bà phải giữ im lặng.”
Giờ thì hai thân hình trên nền đá vờn nhau theo vòng tròn; Jamis cầm dao chĩa ra xa phía trước, mũi hơi chếch lên; Paul cúi mình, dao giữ thấp. Một lần nữa Jamis thình lình bổ tới, lần này anh ta ngoặt sang phải nơi Paul đang né tránh. Thay vì làm động tác giả rồi lùi thoát, Paul đâm trúng bàn tay cầm dao của đối phương bằng chót mũi dao của cậu. Rồi cậu bé lại thoắt biến, lách sang bên trái nhờ lời cảnh báo của Chani. Jamis lùi lại chính giữa vòng, xoa xoa
bàn tay cầm dao. Máu từ vết thương rỏ xuống một lúc rồi ngừng lại. Mắt anh ta mở to nhìn chằm chằm - hai cái lỗ màu xanh đen - dò xét Paul với một vẻ đề phòng mà nãy giờ chưa có, dưới ánh đèn cầu đùng đục. “À, tay kia bị thương rồi,” Stilgar lẩm bẩm. Paul cúi mình trong tư thế sẵn sàng và, như đã được dạy phải làm sau khi khiến đối thương chảy máu lần đầu, cậu nói to: “Mi có đầu hàng không?” “Ha!” Jamis thét.
Một tiếng thì thầm giận dữ dậy lên từ phía đám đông. “Bình tĩnh!” Stilgar hô to. “Cậu bé không biết luật của chúng ta.” Rồi quay sang Paul, ông nói: “Trong cuộc thách đấu tahaddi thì không có chuyện đầu hàng. Nếu không qua được thử thách thì phải chết.” Jessica thấy Paul khó nhọc nuốt nước bọt. Và nàng nghĩ: Nó chưa bao giờ giết một ai như thế này... trong dòng máu nóng hổi của một trận so dao. Nó có làm được không? Paul chầm chậm vòng sang phải, cách di
chuyển của Jamis buộc cậu phải làm vậy. Cái hiểu biết tiên tri về những biến số thời gian sôi sục trong cái hang này lại bắt đầu làm rộn tâm trí cậu. Hiểu biết mới của cậu cho cậu biết rằng trong trận đánh này có quá nhiều quyết định bị nén quá nhanh đến nỗi khó lòng có một con đường phía trước nào hiện rõ. Biến số này chồng lên biến số khác - chính vì vậy mà cái hang này nằm chềnh ềnh như một khối bùng nhùng không rõ nét trên đường đi của cậu. Nó như một tảng đá khổng lồ trong dòng lũ, tạo nên những xoáy nước trong dòng chảy xung quanh nó.
“Chấm dứt việc này đi, cậu trai,” Stilgar lẩm bẩm. “Đừng vờn hắn.” Paul rón rén lùi xa hơn vào vòng đấu, dựa trên thế mạnh tốc độ của cậu. Jamis lùi lại - giờ thì anh ta đã vụt nhận ra rằng đây không phải là một tên ẻo lả đến từ xứ khác trên sàn đấu tahaddi, con mồi dễ xơi cho một con dao pha lê Fremen. Jessica nhận thấy cái bóng của nỗi tuyệt vọng trên mặt người đàn ông. Đây mới là lúc anh ta nguy hiểm nhất, nàng nghĩ. Giờ thì anh ta tuyệt vọng và có thể làm bất cứ điều gì. Anh ta hiểu đây không
phải một đứa trẻ con cùng dòng giống với anh ta, mà là một cỗ máy chiến đấu bẩm sinh, ngay từ nhỏ đã được rèn luyện để chiến đấu. Giờ thì nỗi sợ mà ta gieo trong lòng anh ta đã bắt đầu đơm hoa kết quả. Và nàng nhận thấy trong chính mình lòng thương hại Jamis - song cảm xúc đó dịu đi bởi ý thức về mối nguy cấp thiết đối với con trai nàng. Jamis có thể làm bất cứ điều gì... bất cứ điều gì không thể tiên đoán được, nàng tự nhủ. Nàng tự hỏi liệu Paul có thoáng thấy được cái tương lai này không, liệu cậu có đang sống lại trải
nghiệm này không. Nhưng nàng nhận ra cách di chuyển của con trai, những giọt mồ hôi giống như hạt châu trên mặt và vai cậu, sự cảnh giác và thận trọng thấy rõ trong những chuyển động tế vi của cơ bắp cậu. Và lần đầu tiên nàng nhận thấy - dù không hiểu - cái nhân tố bất định trong năng khiếu của Paul. Giờ thì Paul đang dồn trận, cậu đi quanh vòng đấu nhưng không tấn công. Cậu đã nhận thấy nỗi sợ ở đối phương. Ký ức về giọng nói của Duncan Idaho tuôn qua ý thức Paul: “Khi đối phương sợ ta, đó chính là lúc ta để cho nỗi sợ nắm quyền thống trị, để cho nỗi sợ có thời gian tác động đến y. Hãy để nó biến thành cơn
khiếp đảm. Kẻ đang khiếp đảm thì tự chiến đấu với chính y. Cuối cùng, y tấn công trong tuyệt vọng. Đó là khoảnh khắc nguy hiểm nhất, nhưng ta có thể hy vọng rằng kẻ đang khiếp đảm thường phạm sai lầm chí tử. Ở đây cậu chủ đang được huấn luyện để phát hiện ra những sai lầm đó và tận dụng chúng.” Đám đông trong hang bắt đầu xì xầm. Họ cho rằng Paul đang đùa giỡn với Jamis, Jessica nghĩ. Họ nghĩ Paul đang tỏ ra tàn nhẫn một cách không cần thiết.
Nhưng nàng cũng cảm thấy sự phấn khích ngấm ngầm của đám đông, sự khoái trá của họ khi theo dõi cảnh tượng đó. Và nàng có thể nhận ra sức ép đang dâng lên trong Jamis. Cái khoảnh khắc mà sức ép đó trở nên quá lớn khiến anh ta không chứa nổi đã trở nên rõ ràng đối với nàng cũng như với chính Jamis... hoặc với Paul. Jamis nhảy lên cao, đánh nhử rồi xỉa xuống bằng tay phải, nhưng bàn tay trống rỗng. Con dao pha lê đã được chuyển sang tay trái anh ta. Jessica thở gấp.
Nhưng Paul đã được Chani cảnh báo: “Jamis có thể giao chiến bằng cả hai tay.” Và chiều sâu của những gì cậu được huấn luyện cũng đã tình cờ bao hàm cả điều đó. “Tập trung chú ý vào con dao chứ không phải bàn tay cầm dao.” Gurney Halleck đã nói đi nói lại với cậu: “Con dao nguy hiểm hơn bàn tay, và dao có thể nằm trong tay này hoặc tay kia.” Và Paul đã nhận ra sai lầm của Jamis: động tác chân của anh ta không tốt, nên sau cú nhảy hòng làm Paul rối trí và giấu việc đổi dao sang tay khác, anh ta phải mất một khoảng dài bằng một nhịp tim để lấy lại thăng bằng.
Nếu không kể ánh đèn cầu màu vàng tù mù và cặp mắt thẫm như mực của đám đông theo dõi, thì cảnh đó giống như trong một cữ tập trên sàn huấn luyện. Tấm chắn không còn có ý nghĩa gì khi chuyển động của cơ thể có thể được dùng để chống lại chính cơ thể đó. Paul đổi tay cầm dao bằng một động tác khó thấy, thoắt chuyển sang một bên và xỉa dao lên đúng vào chỗ ngực của Jamis đang hạ xuống, rồi lùi lại để quan sát đối phương gục ngã. Jamis ngã xuống như một tấm giẻ rách rũ oặt, mặt chúi xuống, thở hắt một tiếng rồi xoay mặt lên về phía Paul, sau đó nằm
bất động trên sàn đá. Cặp mắt không còn chút sinh khí của anh ta mở trừng trừng như hai hạt thủy tinh đen. “Hạ thủ bằng mũi dao là thiếu nghệ thuật,” Idaho có lần đã nói với Paul, “song chớ để điều đó làm chùn tay ta khi chỗ sơ hở tự nó lộ ra.” Đám đông ùa về phía trước, kín nghịt cả vòng đấu, đẩy bật Paul sang một bên. Họ vây đặc quanh Jamis, điên cuồng hối hả làm gì đó. Ngay sau đó, một nhóm trong số họ hối hả đi sâu vào trong hang, mang theo một vật nặng quấn kín trong chiếc áo dài.
Và không còn cái xác nào trên sàn đá nữa. Jessica lao về phía con trai. Nàng cảm thấy mình đang bơi giữa một biển những tấm lưng vận áo choàng kín mít bốc mùi thật khủng khiếp, một đám đông yên lặng đến kỳ lạ. Giờ mới là khoảnh khắc đáng sợ, nàng nghĩ. Nó đã giết một người rõ ràng vượt trội nó về trí óc và cơ bắp. Không được để nó trở nên khoái trá với một chiến thắng như vậy. Nàng cố len qua những người cuối cùng của đám đông, bước vào một khoảng
trống nhỏ nơi hai người Fremen rậm râu đang giúp Paul mặc sa phục. Jessica đăm đăm nhìn con trai. Mắt Paul ngời sáng. Cậu thở nặng nhọc, để yên cho người ta chăm sóc cơ thể cậu chứ không giúp họ. “Cậu ta hạ Jamis, còn chính cậu ta một vết xước cũng không,” một trong hai người lẩm bẩm. Chani đứng một bên, mắt chăm chú nhìn Paul. Jessica nhận ra sự háo hức của cô bé, niềm khâm phục hiện rõ trên khuôn mặt nhỏ nhắn xinh tươi của cô.
Chuyện này phải làm ngay bây giờ và phải làm nhanh, Jessica nghĩ. Nàng dồn sự khinh bỉ tột cùng vào giọng nói và thái độ của mình, rồi nói: “Đư...ư...ợ...c...c lắm, giờ đã giết người rồi thì con thấy thế nào?” Paul cứng đờ toàn thân như bị roi quất. Cậu bắt gặp cái nhìn lạnh giá của mẹ, và mặt cậu tối sầm lại vì máu dồn lên. Một cách vô thức, cậu liếc về vị trí trên sàn hang nơi Jamis đã nằm. Stilgar trở lại từ sâu trong hang nơi người ta mang xác Jamis vào, tiến về
phía Jessica. Ông nói với Paul bằng giọng cay đắng, điềm tĩnh: “Khi đến lúc cậu thách đấu để kiểm tra burda của tôi, chớ nghĩ rằng cậu sẽ đùa với tôi như đã đùa với Jamis.” Jessica cảm nhận được những lời của chính nàng và của Stilgar thấm sâu vào Paul ra sao, chúng đang có tác động nghiệt ngã đến thế nào đối với cậu. Sai lầm mà những người kia phạm phải, giờ thì nó đã phục vụ một mục đích. Nàng dò xét những khuôn mặt quanh mình như Paul đang làm, thấy những gì cậu thấy. Sự khâm phục, phải, nhưng cả nỗi sợ... và ở vài khuôn mặt - sự căm ghét. Nàng nhìn Stilgar, nhận thấy vẻ phục tùng số
phận của ông, biết rằng ông cảm nhận thế nào về trận giao chiến vừa rồi. Paul nhìn mẹ. “Mẹ biết đó là gì,” cậu nói. Nàng nghe thấy sự điềm tĩnh trở lại và cảm giác hối lỗi trong giọng cậu. Jessica lướt nhìn toàn bộ đám đông rồi nói: “Paul chưa bao giờ giết người với một lưỡi dao trần.” Stilgar đối diện nàng, trên mặt lộ rõ sự ngờ vực. “Tôi không đùa với anh ta,” Paul nói. Cậu tiến lên phía trước mẹ, vuốt thẳng áo
dài, liếc về phía vết thẫm nơi máu của Jamis đổ xuống sàn. “Tôi không muốn giết anh ta.” Jessica nhận thấy sự tin tưởng dần dần xuất hiện trong Stilgar, thấy sự nhẹ nhõm ở ông, trong cái động tác ông dứt dứt râu bằng bàn tay gân guốc. Nàng nghe thấy những tiếng xì xào lan khắp đám đông tỏ vẻ hiểu sự tình. “Chính vì vậy cậu yêu cầu anh ta đầu hàng,” Stilgar nói. “Tôi hiểu. Cung cách của chúng tôi thì khác, nhưng rồi cậu sẽ hiểu ra ý nghĩa của nó. Tôi cho rằng chúng tôi đã thu nhận một con bọ cạp vào dân tộc chúng tôi.” Ông do dự, rồi
nói: “Và tôi sẽ không gọi cậu là cậu bé nữa.” Một tiếng nói cất lên từ trong đám đông: “Cần phải đặt tên, Stil ạ.” Stilgar vừa gật đầu vừa dứt dứt râu. “Tôi đã thấy sức mạnh bên trong anh... như sức mạnh dưới một cây cột.” Ông lại ngừng, rồi nói tiếp: “Anh sẽ được dân tôi gọi là Usul, nghĩa là đế cột. Đây là mật danh của anh, quân danh của anh. Chúng tôi, những người ở Sietch Tabr có thể dùng nó, nhưng không một ai khác được phép dùng... Usul.” Tiếng xì xầm lan khắp đám đông. “Chọn
hay lắm... người ấy... mạnh mẽ... sẽ đem may mắn cho chúng ta.” Và Jessica cảm nhận được thái độ chấp nhận, biết nàng đã được chấp nhận cùng với người bảo vệ nàng. Nàng thực sự là Sayyadina. “Giờ thì anh muốn chúng tôi gọi anh một cách công khai bằng cái tên nào, cái tên dành cho người trưởng thành?” Stilgar hỏi. Paul liếc mẹ, rồi lại nhìn sang Stilgar. Từng mẩu từng mẩu của khoảnh khắc này đã được ghi lại trong ký ức tiên tri của cậu, nhưng cậu cảm thấy những sự khác biệt như thể chúng là vật chất, một sức ép buộc cậu phải băng qua cánh cửa hẹp
của hiện tại. “Dân tộc ông gọi con chuột nhỏ, con chuột thường hay nhảy ấy, là gì?” Paul hỏi, nhớ lại cái động tác nhảy lò cò mà cậu đã thấy ở lòng chảo Tuono. Cậu dùng bàn tay minh họa nó. Một tiếng cười khúc khích vang lên trong khắp đám đông. “Chúng tôi gọi nó là muad’dib,” Stilgar nói. Jessica thở gấp. Đó là cái tên Paul đã nói với nàng, bảo rằng người Fremen sẽ chấp nhận nó và dùng nó để gọi tên cậu.
Nàng bất chợt cảm thấy sợ cho con trai và sợ chính con trai. Paul nuốt nước bọt. Cậu cảm thấy mình đang đóng một vai mà cậu đã đóng đi đóng lại vô số lần trong tâm trí... nhưng... vẫn có những khác biệt. Cậu có thể thấy mình đang ngồi vắt vẻo trên một đỉnh cao chóng mặt, đã trải nghiệm nhiều và sở hữu một kho tri thức uyên thâm, nhưng bốn bề quanh cậu là vực thẳm. Và một lần nữa cậu nhớ lại ảo cảnh những đoàn quân cuồng tín bước theo lá cờ xanh lục và đen của nhà Atreides, cướp bóc và đốt phá khắp cùng vũ trụ dưới cái tên nhà tiên tri Muad’Dib.
Điều đó không được phép xảy ra, cậu tự nhủ. “Đó là cái tên anh muốn phải không, Muad’Dib?” Stilgar hỏi. “Tôi là người của gia tộc Atreides,” Paul thì thầm, rồi nói to hơn: “Nếu tôi từ bỏ hoàn toàn cái tên mà cha tôi đã cho tôi thì thật không phải. Liệu quý vị có thể gọi tôi là Paul Muad’Dib không?” “Anh là Paul Muad’Dib,” Stilgar nói. Và Paul nghĩ: Chuyện này không có trong những gì mình đã nhìn thấy
trước. Mình đã làm khác đi. Nhưng cậu cảm thấy vực thẳm vẫn còn nguyên đó xung quanh cậu. Một lần nữa tiếng thì thầm trả lời vang lên từ khắp đám đông, người này quay sang người nọ: “Hiền minh đi cùng sức mạnh... Không thể đòi gì hơn nữa... Nhất định là người theo truyền thuyết... Lisan al-Gaib... Lisan al-Gaib...” “Tôi sẽ cho anh biết một điều về cái tên mới của anh,” Stilgar nói. “Tên anh chọn làm chúng tôi vui lòng. Muad’Dib hiểu tường tận những cung cách của sa mạc. Muad’Dib tự tạo ra nước cho mình.
Muad’Dib trốn mặt trời và đi lại vào ban đêm khi trời mát mẻ. Muad’Dib mắn đẻ, nhân lên trên khắp xứ này. Muad’Dib được chúng tôi gọi là “thầy-của-các-cậutrai”. Đó là một cái nền vững mạnh để trên đó anh xây dựng đời mình, hỡi Paul Muad’Dib, hay Usul đối với chúng tôi. Chúng tôi đón chào anh.” Stilgar đặt một tay lên trán Paul, rồi rút tay lại, ôm lấy Paul mà lẩm bẩm: “Usul.” Khi Stilgar buông cậu ra, một người khác trong đám đông ôm lấy Paul, nhắc lại cái tên mới của cậu đối với cộng đồng này. Và Paul được chuyển từ người này qua người khác, ai cũng ôm cậu, những tiếng
“Usul... Usul... Usul” được thốt lên bằng nhiều giọng, nhiều âm sắc. Giờ thì cậu đã có thể phân biệt vài người bằng tên riêng. Và lại có Chani, cô ôm cậu, áp chặt má vào má cậu và gọi tên cậu. Ngay sau đó Paul lại đứng trước mặt Stilgar, ông nói: “Giờ thì anh là người của Ichwan Bedwine, người anh em của chúng ta.” Mặt ông đanh lại, và ông nói bằng giọng uy quyền. “Còn bây giờ, Paul Muad’Dib, hãy siết chặt bộ sa phục.” Ông nhìn sang Chani. “Này Chani! Mấy đầu ống thở của Paul Muad’Dib trông chẳng vừa tí nào! Hình như ta đã ra lệnh cho cô trông nom anh ta cơ mà!”
“Cháu không có số đo của Paul, bác Stil ạ!” cô nói. “Dĩ nhiên đó là bộ đồ của Jamis, nhưng mà...” “Đủ rồi!” “Vậy thì cháu sẽ cho anh ấy một bộ của cháu,” cô nói. “Cháu chỉ cần một bộ cũng được, cho đến khi...” “Không được,” Stilgar nói. “Ta biết người của ta có những bộ dự trữ. Đồ dự trữ đâu rồi? Chúng ta là một cộng đồng hay là một toán cướp đây?” Từ trong đám đông có những bàn tay chìa ra những vật cứng, làm bằng sợi.
Stilgar chọn bốn cái, đưa cho Chani. “Đem cho Usul và Sayyadina mặc thử.” Một giọng cất lên từ cuối đám đông: “Còn nước thì sao hở Stil? Mấy literjon nước trong hành trang của họ thì sao?” “Tôi biết nhu cầu của anh, Farok,” Stilgar nói. Ông nhìn sang Jessica. Nàng gật đầu. “Mở một bình ra cho ai cần thì uống,” Stilgar nói. “Thầy quản nước... thầy quản nước đâu rồi? À, Shimoom, hãy lo đong đếm cho đều cái mọi người cần. Chỉ khi thật sự cần, không nhiều hơn. Nước này là tài sản Sayyadina ban cho và sẽ được
hoàn lại trong sietch với mức giá khu vực trừ phí vận chuyển.” “Khoản hoàn trả theo mức giá khu vực là bao nhiêu?” Jessica hỏi. “Mười trên một,” Stilgar nói. “Nhưng...” “Đó là một quy luật thông minh, rồi bà sẽ hiểu,” Stilgar nói. Tiếng áo choàng cọ nhau loạt soạt cho biết có chuyển động ở cuối đám đông bởi mọi người đang quay lại lấy nước.
Stilgar nhấc một tay lên, mọi người liền im lặng. “Về phần Jamis, chúng ta sẽ tổ chức tang lễ với đầy đủ nghi thức,” ông nói. “Jamis là bằng hữu của chúng ta, là huynh đệ của Ichwan Bedwine. Sẽ không có chuyện chúng ta ngoảnh đi mà không tỏ lòng kính trọng người đã xác minh vận mệnh của chúng ta bằng cách đem thân mình thách đấu tahaddi... Cầu cho nghi lễ... diễn ra lúc hoàng hôn, khi bóng tối phủ che anh ấy.” Nghe những lời ấy, Paul nhận ra mình lại một lần nữa lao vào vực thẳm... thời gian mù. Không có quá khứ nào chiếm lĩnh tương lai trong tâm trí cậu... ngoại trừ... ngoại trừ... cậu vẫn còn cảm thấy lá cờ
xanh đen của nhà Atreides đang vẫy gọi... đâu đó đằng trước... vẫn còn thấy những thanh gươm thánh chiến nhuộm máu và những đoàn quân cuồng tín. Điều đó sẽ không xảy ra, cậu tự nhủ. Ta không thể để nó xảy ra.
Thượng đế tạo ra Arrakis để rèn giũa người trung tín. - trích “Minh triết của Muad’Dib” của Công chúa Irulan Trong im lặng của hang, Jessica nghe thấy tiếng cát loẹt xoẹt trên mặt đá khi mọi người đi lại, tiếng chim kêu xa xăm mà Stilgar có lần nói là tín hiệu của những người canh gác. Những tấm chắn lớn bằng nhựa đã được dẹp khỏi cửa hang. Nàng có thể thấy những cái bóng của buổi chiều trôi ngang
qua mép tảng đá trước mặt nàng và vùng lòng chảo trơ trụi ngoài kia. Nàng cảm thấy ánh sáng ban ngày đang rời bỏ họ, cảm thấy nó trong cái nóng khô rang cũng như trong những cái bóng. Nàng biết, ý thức được rèn luyện công phu của nàng chẳng bao lâu sẽ mang lại cho nàng cái mà những người Fremen kia hiển nhiên đang có - khả năng cảm nhận được ngay cả sự thay đổi nhỏ nhất trong độ ẩm không khí. Họ phải thắt chặt bộ sa phục hối hả đến nhường nào một khi cửa hang đã mở! Sâu trong hang, ai đó bắt đầu ngân nga:
“Ima trava okolo! I korenja okolo!” Jessica thầm dịch: “Đây là tro! Còn đây là rễ!” Tang lễ Jamis đang bắt đầu. Nàng nhìn ra hoàng hôn Arrakeen, nhìn những tầng màu sắc chồng chất trên bầu trời. Đêm đang bắt đầu trút bóng lên các tảng đá đằng xa và những cồn cát. Nhưng cái nóng vẫn dai dẳng. Cái nóng buộc nàng phải nghĩ về nước,
về điều nàng đã quan sát thấy rằng có thể toàn bộ dân tộc này đã được rèn luyện để chỉ khát ở một số thời điểm đã định. Cơn khát. Nàng nhớ lại những làn sóng đẫm ánh trăng trên Caladan hắt những tấm áo dài trắng phau lên mặt đá... và làn gió nặng hơi ẩm. Còn giờ đây, làn gió nhẹ lùa qua chiếc áo dài nàng mặc làm khô héo những mảng da má và da trán để lộ ra ngoài. Ống thở mới làm nàng ngứa ngáy, và nàng nhận ra mình không thể nào bớt chú ý đến chiếc ống nối chạy suốt từ mặt nàng xuống bộ quần áo để giữ lại và tái tạo phần nước ẩm trong hơi thở.
Riêng bộ quần áo đã là cả một phòng tắm hơi. “Bà sẽ thấy bộ sa phục dễ chịu hơn một khi bà đã thích nghi với hàm lượng nước thấp hơn chứa trong cơ thể,” Stilgar đã nói. Nàng biết ông nói đúng, nhưng hiểu biết ấy cũng chẳng làm cho cái khoảnh khắc này dễ chịu hơn. Nỗi ám ảnh vô thức về nước cứ đè nặng tâm trí nàng. Không, nàng tự chữa, ấy là ám ảnh về hơi ẩm. Và đó là một vấn đề tế nhị hơn, sâu xa hơn.
Nàng nghe thấy những bước chân lại gần, quay lại thì thấy Paul từ sâu trong hang đang tiến đến, bị cô Chani khuôn mặt xinh xắn cầm tay mà lôi. Lại một chuyện khác nữa, Jessica nghĩ. Cần phải cảnh báo Paul về chuyện đàn bà Fremen. Một phụ nữ sa mạc sẽ không thích hợp để làm vợ Công tước. Hầu thiếp thì được. Vợ thì không. Rồi nàng lại tự hỏi: Mình đã bị nhiễm những âm mưu của ông ấy rồi ư? Và nàng nhận ra mình đã được chuẩn bị tốt đến thế nào để thích ứng với hoàn cảnh. Mình có thể nghĩ đến nhu cầu thành
thân của hoàng tộc mà không một lần xét tới việc chính mình là hầu thiếp. Nhưng... mình đã không chỉ là hầu thiếp. “Mẹ.” Paul dừng lại trước mặt nàng. Chani đứng sát cạnh cùi chỏ cậu. “Mẹ, mẹ biết họ đang làm gì đằng kia không?” Jessica nhìn vào mảng tối cặp mắt cậu đang đăm đăm nhìn nàng từ sau chiếc mũ trùm. “Mẹ nghĩ là có.”
“Chani đã cho con xem... bởi con sẽ phải chứng kiến điều đó và... chính con phải cho phép người ta cân nước.” Jessica nhìn Chani. “Họ đang lấy lại nước của Jamis,” Chani nói, và giọng nói nhỏ nhẻ của cô phát ra từ đường mũi qua ống thở. “Lệ là vậy. Xác thịt thuộc về người đã khuất, nhưng nước của anh ta thuộc về bộ tộc... trừ trường hợp chết trong chiến trận.” “Họ bảo nước đó là của con,” Paul nói. Jessica tự hỏi tại sao điều này lại đột nhiên khiến nàng cảnh giác đề phòng.
“Trong một trận giao chiến, nước thuộc về người chiến thắng,” Chani nói. “Đó là vì anh phải giao chiến ngoài trời, không mặc sa phục. Người thắng phải phục