phần còn lại của nó thì khá phù hợp với sự lừa dối đó. Và nàng cảm thấy một sự chua xót cay đắng về những gì mình đã làm. Missionaria Protectiva của chúng ta hiếm khi thất bại. Một nơi đã được chuẩn bị trước dành cho chúng ta trong chốn hoang vu này. Kinh cầu nguyện salat đã tạo ra nơi ẩn trốn cho chúng ta. Bây giờ... ta phải diễn vai Auliya,
Bạn Của Thượng đế... Sayyadina đối với đám người sống tách biệt chịu dấu ấn quá sâu sắc từ những lời tiên tri Bene Gesserit của chúng ta, thậm chí họ còn gọi các nữ tu trưởng của họ là Mẹ Chí tôn. Paul đứng cạnh Chani trong bóng tối của hang trong. Cậu vẫn đang nhấm nháp chỗ thức ăn mà Chani đưa cho - thịt chim và ngũ cốc trộn mật hương dược bọc trong lá. Khi thưởng thức nó cậu nhận ra trước đây mình chưa bao giờ ăn tinh chất hương dược cô đặc như thế, và cậu thoáng sợ hãi. Cậu biết cái tinh chất này có thể làm gì với cậu - sự chuyển hóa hương dược đó từng đẩy tâm trí cậu vào
nhận thức tiên tri. “Bi-la kaifa,” Chani thì thầm. Cậu nhìn cô, nhìn thấy nỗi kính sợ mà với nó người Fremen dường như chấp nhận những lời nói của mẹ cậu. Chỉ có người đàn ông tên gọi Jamis dường như bàng quan với nghi lễ này, anh ta đứng ở xa, khoanh tay trước ngực. “Duy yakha hin mange,” Chani thì thầm. “Duy punra hin mange. Ta có hai mắt. Ta có hai chân.” Và cô nhìn Paul chằm chằm, tỏ vẻ kinh ngạc.
Paul hít một hơi sâu, cố gắng làm lắng dịu cơn bão trong lòng. Những lời mẹ cậu nói đã nhằm đúng vào tác dụng của tinh chất hương dược, và cậu cảm thấy giọng của mẹ lên bổng xuống trầm bên trong cậu như những cái bóng của một ngọn lửa lộ thiên. Thông qua những cái đó, cậu cảm thấy sự hoài nghi trong mẹ - cậu hiểu mẹ quá rõ mà! - nhưng không gì có thể dừng chuyện này lại một khi nó đã bắt đầu bằng một mẩu thức ăn. Cái mục đích kinh khủng! Cậu cảm thấy nó, cái ý thức dòng giống mà cậu không thể thoát ra. Có một sự rõ
ràng sắc bén, sự chảy vào của dữ liệu, sự chính xác lạnh lùng của ý thức. Cậu ngồi xuống nền hang, tựa lưng vào đá, trao con người cậu cho nó. Ý thức chảy vào cái địa tầng vô thời gian đó nơi cậu có thể nhìn thấy thời gian, cảm thấy những con đường sẵn có, những luồng gió của tương lai... những luồng gió của quá khứ: thị kiến một mắt của quá khứ, thị kiến một mắt của hiện tại và thị kiến một mắt của tương lai - tất cả kết hợp lại thành một thị kiến ba mắt cho phép cậu nhìn thấy thời-gian-trở-thành-không-gian. Cậu cảm thấy mối nguy hiểm của việc vượt quá chính mình và cậu phải bám vào ý thức của mình về hiện tại, cảm
thấy sự chệch hướng lờ mờ của những gì đã trải qua, cái khoảnh khắc đang tuôn chảy, sự đông đặc liên tục của cái-đanglà để thành cái vĩnh-viễn-đã-là. Trong khi níu lấy hiện tại, lần đầu tiên cậu cảm thấy ở khắp nơi, chuyển động đều lớn lao của thời gian đều bị phức tạp hóa bởi những dòng dịch chuyển, những sóng, những trồi lên, sụt xuống, giống như con sóng vỗ vào vách đá. Nó đem lại cho cậu một hiểu biết mới về khả năng tiên tri của cậu, và với một cảm giác sợ hãi tức thì, cậu nhận ra nguồn gốc của khoảng thời gian mù, nguồn gốc của sai số trong nó.
Cậu nhận ra việc nhìn thấy trước tương lai là một sự khai trí, nó hợp nhất những giới hạn của cái mà nó để lộ ra - cùng một lúc là nguồn gốc của sự chính xác và sai số có nghĩa. Một loại tính bất định Heisenberg can thiệp vào đây: sự tiêu tốn năng lượng làm bộc lộ điều cậu thấy, thay đổi điều cậu thấy. Và điều cậu nhìn thấy là mối liên hệ thời gian trong cái hang này, sự sôi sục các khả năng tập trung ở đây, nơi mà ngay cả hành động nhỏ nhất - cái nháy mắt, một lời sơ suất, một hạt cát nhầm chỗ - cũng làm chuyển động một đòn bẩy khổng lồ bắc ngang qua vũ trụ đã biết. Cậu nhìn thấy bạo lực cùng với cái hệ quả chịu tác
động của quá nhiều biến số đến nỗi cử động nhỏ nhất của cậu cũng gây ra những dịch chuyển lớn lao trong mẫu hình. Cái thị kiến đó khiến cậu muốn đông cứng lại bất động, nhưng kể cả điều này cũng là một hành động kèm theo những hậu quả của nó. Vô số con đường-hậu quả từ cái hang này trải dài ra, và trên hầu hết các con đường-hậu quả đó cậu nhìn thấy thi thể của chính mình với dòng máu chảy ra từ một vết thương rộng hoác bị dao đâm. Cha ta, hoàng đế Padishah, tuy đã 72 tuổi nhưng trông không quá tuổi 35 khi
ông lo liệu xong xuôi cái chết của Công tước Leto và trao Arrakis cho gia tộc Harkonnen. Hiếm khi ông xuất hiện trước công chúng mà ăn mặc gì khác ngoài bộ đồng phục Sardaukar và mũ sắt Burseg màu đen với con sư tử bằng vàng - biểu tượng của Hoàng đế - trên chóp mũ. Bộ trang phục này là lời nhắc nhở thẳng thừng về phạm vi quyền lực của ông. Dù vậy, không phải lúc nào ông cũng vênh vang như thế. Khi muốn, ông có thể tỏa lộ sự duyên dáng và chân thật, nhưng về sau ta thường tự hỏi liệu ông có thật như vẻ ngoài của ông không. Nay thì ta nghĩ ông là một người luôn chiến đấu hòng thoát khỏi những thanh chắn của một chiếc lồng
vô hình. Các người phải nhớ rằng ông là một hoàng đế, người đứng đầu trăm họ của một triều đại từng có lịch sử cực kỳ u tối. Nhưng bọn ta đã không cho ông có một người con trai hợp pháp. Đây chẳng phải là thất bại khủng khiếp nhất mà một nhà cai trị từng phải chịu sao? Mẹ ta đã tuân theo các Xơ Bề trên của bà trong khi Lệnh bà Jessica không tuân theo. Ai trong số hai người là kẻ mạnh hơn? Lịch sử đã trả lời rồi. - “Trong Gia tộc cha ta” của Công chúa Irulan Jessica tỉnh giấc trong bóng tối của hang, cảm thấy người Fremen đang chuyển
động nhộn nhịp xung quanh nàng, ngửi thấy mùi sa phục chua loét. Giác quan nội tại của nàng về thời gian báo cho nàng biết chẳng mấy chốc trời sẽ tối, nhưng hang vẫn chìm trong màu đen, ngăn cách với sa mạc nhờ những tấm vải trùm bằng nhựa dùng để tóm bắt hơi ẩm từ cơ thể họ ở lại bên trong không gian này. Nàng nhận ra nàng đã tự cho phép mình ngủ một giấc ngủ hoàn toàn thư giãn do quá mệt, điều đó cho thấy rằng một cách vô thức, nàng đã đánh giá rằng mình rất an toàn khi ở giữa đoàn người của Stilgar. Nàng xoay mình trên chiếc võng làm từ áo choàng của nàng, thả chân
xuống nền đá, xỏ vào đôi ủng sa mạc. Mình phải nhớ cài ủng theo kiểu xỏ chân để hỗ trợ hoạt động bơm của bộ sa phục, nàng nghĩ. Có quá nhiều thứ cần phải nhớ. Nàng vẫn ngửi thấy mùi bữa sáng - những mẩu thịt chim và hạt bọc trong lá, cho thêm mật hương dược - và chợt nghĩ ra rằng ở đây cách sử dụng thời gian đã được hoán đổi: đêm thì sinh hoạt, ngày thì nghỉ. Đêm che kín, đêm an toàn hơn cả. Nàng tháo chiếc áo dài ra khỏi các chốt
gắn trên vách một hốc hang, lóng ngóng với nó một hồi trong bóng tối, mãi mới tìm được cổ áo để luồn vào. Làm cách nào gửi thông điệp cho Bene Gesserit được? nàng tự hỏi. Chắc hẳn họ đã được báo tin về hai kẻ đi lạc ở thánh đường Arrakeen. Những quả đèn cầu bật sáng từ sâu phía trong hang. Nàng thấy có nhiều người đang đi lại ở đó. Paul đi cùng họ, cậu đã thay quần áo, mũ trùm hất ngược ra sau để lộ những đường nét giống chim ưng của dòng dõi Atreides. Cậu đã cư xử rất lạ từ trước khi họ nghỉ
ngơi, nàng nghĩ. Đã lui vào trong. Cậu như người từ cõi chết trở về, vẫn chưa hoàn toàn nhận thức được mình đang trở về, mắt nửa nhắm nửa mở, trông đờ đẫn với cái nhìn nội tâm. Nó khiến nàng nghĩ tới lời cảnh báo của cậu về chế độ ăn uống có quá nhiều hương dược: thứ gây nghiện. Liệu có phản ứng phụ không? Nàng tự hỏi. Paul bảo thứ ấy có liên quan gì đó tới khả năng tiên tri của nó, nhưng thằng bé kín tiếng đến mức kỳ lạ về những gì nó thấy. Stilgar xuất hiện từ trong bóng tối bên phải nàng, tiến về phía nhóm người đang
đi dưới những quả cầu sáng. Nàng để ý cách ông sờ râu, để ý cái nhìn cảnh giác không để sót điều gì của ông. Một nỗi sợ hãi đột ngột choán lấy Jessica khi các giác quan của nàng thức tỉnh trước sự căng thẳng hiện rõ ở những người đang tụ tập quanh Paul - những cử động kiên quyết, tư thế theo nghi thức... “Họ đã được sự đồng tình của ta!” Stilgar quát lớn. Jessica nhận ra người mà Stilgar đang đối mặt - Jamis! Chừng đó thì nàng nhận ra cơn phẫn nộ ở Jamis - tư thế căng thẳng, cứng đờ của đôi vai anh ta.
Jamis, người mà Paul đã thắng! nàng nghĩ. “Anh biết luật mà, Stilgar,” Jamis nói. “Ai biết luật rõ hơn?” Stilgar hỏi, và Jessica nghe thấy âm sắc nhượng bộ trong giọng Stilgar, nhận ra nỗ lực muốn dàn xếp mọi chuyện êm đẹp. “Tôi chọn chiến đấu,” Jamis gầm gừ. Jessica vội vã băng ngang qua hang, túm lấy tay Stilgar. “Chuyện gì thế này?” nàng hỏi.
“Đó là luật amtal,” Stilgar nói. “Jamis đang đòi quyền kiểm chứng vai trò của mẹ con bà trong truyền thuyết.” “Phải có người đấu cho bà ta,” Jamis nói. “Nếu người đấu cho bà ta thắng, nó sẽ chứng tỏ đó là sự thật. Nhưng nghe nói...” anh ta liếc khắp đám người, “... bà ta không cần tìm kẻ bảo vệ trong đám dân Fremen, như vậy chỉ có nghĩa là bà ta có mang theo kẻ bảo vệ của riêng mình.” Anh ta nói đến chuyện đấu tay đôi với Paul! Jessica nghĩ. Nàng buông tay Stilgar, tiến lên phía
trước nửa bước. “Tôi luôn luôn là người bảo vệ chính tôi,” nàng nói. “Ý nghĩa đó đủ đơn giản để...” “Bà không có quyền bảo chúng tôi phải làm gì,” Jamis cáu kỉnh. “Bà không có quyền, nếu bà không có bằng chứng nào khác ngoài những gì tôi đã thấy. Sáng qua chắc Stilgar đã cho bà biết phải nói thế nào rồi. Chắc ông ta đã nhét đầy vào óc bà những lời đường mật, và bà chắc đã nhắc lại như vẹt với chúng tôi, hòng khiến chúng tôi có cách giải quyết sai lầm.” Ta có thể lấy mạng anh ta, Jessica nghĩ, nhưng điều đó có thể mâu thuẫn với
cách họ diễn giải về truyền thuyết. Và một lần nữa nàng tự hỏi việc làm của Missionaria Protectiva đã bị xuyên tạc đến thế nào trên hành tinh này. Stilgar nhìn Jessica, nói khẽ khàng, nhưng bằng cái giọng sao cho những người đứng ở rìa ngoài cùng đám đông vẫn nghe rõ. “Jamis là người thù dai, thưa Sayyadina. Con trai bà đã thắng anh ta và...” “Chẳng qua là ăn may thôi!” Jamis quát lên. “Đã có thế lực phù thủy ở lòng chảo Tuono và tôi sẽ chứng minh điều đó ngay bây giờ!”
“... và chính tôi cũng đã thắng anh ta,” Stilgar nói tiếp. “Bằng lời thách đấu tahaddi này anh ta cũng muốn trả đũa cả tôi nữa. Trong Jamis có quá nhiều bạo lực khiến anh ta chẳng bao giờ có thể trở thành một thủ lĩnh tốt - quá nhiều ghafla, quá nhiều vọng động. Miệng anh ta nói luật lệ, nhưng tim anh ta thuận theo sarfa, sự khước từ. Không, anh ta chẳng bao giờ thành một thủ lĩnh tốt được. Tôi giữ anh ta lâu đến vậy là vì anh ta hữu ích trong chiến đấu, vậy thôi, nhưng một khi để mặc cơn cuồng nộ khát máu này chiếm lĩnh mình thì anh ta sẽ là kẻ nguy hiểm cho xã hội của chính anh ta.” “Stilgar-r-r-r!” Jamis gầm lên như sấm.
Và Jessica hiểu Stilgar đang muốn làm gì, ông ta muốn làm Jamis nổi cơn cuồng nộ, để lời thách đấu đừng nhắm vào Paul nữa. Stilgar đối mặt với Jamis, và một lần nữa Jessica nghe thấy sự dịu dàng trấn an trong giọng oang oang như lệnh vỡ của ông. “Nó chỉ là thằng bé con thôi, Jamis ạ. Nó...” “Ông đã gọi nó là một đấng nam nhi,” Jamis nói. “Mẹ nó bảo nó đã trải qua được gom jabbar. Nó đã đủ lông đủ cánh và có thừa mứa nước. Những người vận chuyển hành trang của họ bảo trong đó có
các literjon nước! Hàng literjon kia đấy! Còn chúng ta, vừa nhác thấy túi hứng trông hơi lóng lánh như đọng sương là đã vội vàng hớp lấy hớp để rồi!” Stilgar liếc nhìn Jessica. “Có đúng vậy không? Trong hành trang của bà có nước phải không?” “Có.” “Hàng literjon?” “Hai literjon.” “Bà định làm gì với số tài sản đó?”
Tài sản? nàng nghĩ. Nàng lắc đầu, cảm thấy sự lạnh lùng trong giọng ông ta. “Lúc tôi ra đời, nước trên trời rơi xuống chảy tràn trên mặt đất và trong những dòng sông rộng,” nàng nói. “Có những đại dương toàn nước, rộng đến nỗi không thấy bờ bên kia. Tôi không được huấn luyện về kỷ luật nước của các người. Trước đây tôi chưa bao giờ phải nghĩ về nước theo kiểu này.” Một tiếng thở dài hổn hển dậy lên từ đám người xung quanh họ. “Nước từ trên trời rơi xuống... nước chảy tràn trên mặt đất.”
“Bà có biết rằng trong chúng tôi có những người đã không may đánh mất túi hứng và sẽ vô cùng khốn đốn trước khi chúng ta đến được Tabr đêm nay không?” “Làm sao tôi biết được?” Jessica lắc đầu. “Nếu họ cần nước, hãy lấy nước trong hành lý của chúng tôi cho họ.” “Có phải đó là ý đồ của bà khi mang thứ tài sản này không?” “Tôi mang theo nó nhằm cứu lấy sự sống.” “Vậy thì chúng tôi chấp nhận ân phúc của
bà, thưa Sayyadina.” “Các người không thể mua bọn ta bằng nước được đâu,” Jamis gầm gừ. “Mà anh cũng không thể buộc tôi nổi giận với anh, Stilgar. Tôi hiểu anh đang cố buộc tôi thách đấu với anh trước khi tôi chứng minh được những gì tôi đã nói.” Stilgar đối mặt Jamis. “Anh quyết tâm buộc một đứa trẻ phải chấp nhận cuộc quyết đấu này sao, Jamis?” Giọng ông khẽ, độc địa. “Phải có người đấu cho bà ta.” “Cho dù bà ta có sự bảo đảm của tôi?”
“Tôi có luật amtal,” Jamis nói. “Đó là quyền của tôi.” Stilgar gật đầu. “Vậy, nếu thằng bé không hạ thủ được anh thì sau đó anh sẽ phải nộp mình cho lưỡi dao của tôi. Và lần này tôi sẽ không chùn dao như lần trước đâu.” “Ông không thể làm thế,” Jessica nói. “Paul chỉ mới...” “Bà không được can thiệp, thưa Sayyadina,” Stilgar nói. “Ồ, tôi biết bà có thể lấy mạng tôi và do đó có thể lấy mạng bất cứ ai trong chúng tôi, song nếu
tất cả chúng tôi hợp lại thì bà không thắng nổi chúng tôi đâu. Chuyện này phải thế; đó là luật amtal.” Jessica nín lặng, nhìn chằm chằm vào ông trong ánh đèn cầu xanh lục, nhận thấy sự cứng rắn mãnh liệt đã chiếm lĩnh nét mặt ông. Nàng chuyển sự chú ý sang Jamis, nhận thấy vẻ hung tợn ngấm ngầm ở cặp lông mày anh ta, thầm nghĩ: Lẽ ra mình phải thấy điều này từ trước mới phải. Anh ta là kẻ ngấm ngầm nuôi những ý tưởng đen tối. Anh ta là loại người ít nói, loại người nung nấu nỗi căm uất trong lòng. Lẽ ra mình phải chuẩn bị từ trước mới phải.
“Nếu các người hại con ta, các người sẽ phải gặp mặt ta: Bây giờ ta thách đấu các người. Ta sẽ chặt các người thành một mớ...” “Mẹ,” Paul tiến lên phía trước, chạm vào tay áo bà. “Có lẽ nếu con giải thích với Jamis...” “Giải thích á!” Jamis nhạo báng. Paul im lặng, nhìn chằm chằm người đàn ông này. Cậu không sợ anh ta. Jamis cử động có vẻ vụng về, tối qua anh ta đã ngã quá dễ dàng khi họ chạm trán nhau trên cát. Nhưng Paul vẫn cảm thấy cái điểm kết nối sôi sục của vô số khả năng trong
hang động này, vẫn còn nhớ ảo cảnh tiên tri rằng chính cậu chết dưới một mũi dao. Trong cái ảo cảnh đó có quá ít đường cho cậu thoát... Stilgar nói: “Sayyadina, giờ thì bà phải lùi lại chỗ...” “Đừng có gọi mụ ta là Sayyadina nữa!” Jamis nói. “Điều đó chưa được chứng minh. Cứ cho là bà ta biết lời cầu nguyện. Thì đã sao? Chúng ta đây ngay cả trẻ con cũng biết cơ mà.” Anh ta nói đủ rồi, Jessica nghĩ. Mình có chìa khóa để xử anh ta. Mình có thể làm anh ta bất động chỉ bằng một lời
thôi.Nàng do dự. Nhưng làm tất cả bọn họ ngừng lại thì mình không thể. “Chừng đó thì ngươi sẽ phải chịu trách nhiệm với ta,” Jessica nói, nàng bắt giọng theo một thanh điệu xoắn trong đó có một tiếng the thé nhỏ và ở đoạn cuối thì có một cái móc. Jamis nhìn nàng trừng trừng, nỗi khiếp đảm lộ rõ trên mặt. “Ta sẽ dạy cho ngươi biết thế nào là đau đớn cực độ,” nàng nói vẫn bằng giọng đó. “Hãy nhớ điều đó trong khi giao chiến. Ngươi sẽ chịu một cơn đau đớn quằn quại mà so với nó thì gom jabbar vẫn là một hồi ức sung sướng. Ngươi sẽ
quằn quại với toàn bộ cái...” “Mụ ta đang cố đọc thần chú để hại tôi,” Jamis thở hổn hển. Anh ta siết chặt nắm tay phải kề vào cạnh tai. “Tôi yêu cầu buộc mụ ta im lặng.” “Được rồi,” Stilgar nói. Ông ném cái nhìn cảnh cáo về phía Jessica. “Nếu bà còn nói nữa, thưa Sayyadina, chúng tôi sẽ biết đó là thuật phù thủy của bà và bà sẽ phải trả giá.” Ông gật đầu ra hiệu cho nàng lùi lại. Jessica cảm thấy có những bàn tay kéo nàng, giúp nàng lùi lại, và nàng cảm thấy những bàn tay đó không phải là không tử
tế. Nàng nhận thấy Paul đang bị tách khỏi đám đông, cô Chani khuôn mặt nhỏ nhắn vừa thì thầm vào tai cậu vừa gật đầu về phía Jamis. Một vòng tròn hình thành chính giữa đám đông. Người ta đem thêm nhiều quả đèn cầu khác tới, tất cả được chuyển sang dải sóng màu vàng. Jamis bước vào giữa vòng tròn, cởi tuột áo choàng ném cho ai đó trong đám đông. Anh ta đứng đó trong bộ sa phục bóng loáng màu xám đục khâu vào nhau, từng phần được đánh dấu vị trí bằng những nếp gấp, nếp chun. Trong một lát, anh ta cúi người, mồm kê vào một bên
vai để uống nước từ một chiếc ống nối với túi hứng. Ngay sau đó anh ta thẳng người, từ từ cởi bộ đồ, bỏ nó ra khỏi người, cẩn thận đưa cho đám đông. Anh ta đứng đợi, toàn thân chỉ che dải vải buộc ngang thắt lưng và tấm vải nào đó bó chặt quanh hai bàn chân, bàn tay phải cầm một con dao pha lê. Jessica thấy đứa trẻ-cô gái Chani đang giúp Paul, thấy cô ấn một con dao pha lê vào tay cậu, thấy cậu nhấc nó lên, kiểm tra sức nặng và thế cân bằng của nó. Và Jessica chợt nghĩ Paul đã được huấn luyện về prana và bindu, hệ thần kinh và hệ cơ - rằng cậu đã được dạy chiến đấu ở một ngôi trường chết chóc, thầy của
cậu là những người như Duncan Idaho và Gurney Halleck, những người vốn ngay khi đang sống đã trở thành truyền thuyết. Cậu bé biết những phương pháp xảo quyệt của Bene Gesserit, và trông cậu thật dễ dàng thích ứng với hoàn cảnh, thật tự tin. Nhưng nó mới mười lăm tuổi đầu, nàng nghĩ. Nó lại không có tấm chắn. Mình phải dừng việc này lại. Bằng cách nào đó, phải có cách để... Nàng ngước lên, thấy Stilgar đang quan sát mình. “Bà không dừng chuyện này được đâu,” ông nói. “Bà không được nói.”
Nàng đặt một tay lên miệng, thầm nghĩ: Mình đã gieo nỗi sợ vào tâm trí Jamis. Nó sẽ làm hắn chậm lại chút nào đó... có thể. Giá như mình có thể cầu nguyện... thực sự cầu nguyện. Giờ thì Paul đứng một mình giữa vòng tròn, mặc chiếc quần giao đấu mà cậu đã mang dưới bộ sa phục. Cậu cầm dao pha lê trong tay phải, chân để trần trên mặt đá xào xạo cát. Idaho đã nhắc đi nhắc lại với cậu: “Nếu còn hồ nghi về bề mặt nơi mình đứng thì để chân trần là hơn cả.” Và những lời chỉ dẫn của Chani vẫn còn hiển hiện phía trước ý thức cậu: “Sau một đòn đỡ, Jamis thường quay sang phải cùng con dao. Đó là một thói
quen ở anh ta mà tất cả chúng tôi đều thấy. Và anh ta sẽ nhắm vào mắt đối phương, rình khoảnh khắc đối phương chớp mắt là chém ngay. Anh ta có thể giao chiến bằng cả hai tay, nên hãy dè chừng anh ta đổi dao từ tay này sang tay khác.” Nhưng điều mạnh mẽ nhất, mạnh mẽ đến mức Paul cảm nhận được bằng toàn cơ thể, ấy là sự khổ luyện và cơ chế phản ứng thuần bản năng đã được nhồi nhét vào anh ta hết ngày này sang ngày khác, giờ này sang giờ khác trên sàn tập. Những lời của Gurney Halleck vẫn còn đó cho cậu nhớ: “Chiến binh giỏi dùng
dao thì nghĩ đến mũi dao, lưỡi dao và đốc dao cùng một lúc. Mũi cũng có thể chém; lưỡi cũng có thể đâm; và đốc cũng có thể bẫy lưỡi dao của đối phương.” Paul liếc nhìn con dao pha lê. Không có đốc dao; chỉ có cái vòng tròn mảnh chạy quanh tay nắm, mép hơi nhô lên để bảo vệ bàn tay. Dẫu vậy đi nữa, cậu nhận ra mình không biết ứng suất gãy của lưỡi dao này là bao nhiêu, thậm chí còn không biết liệu nó có thể gãy được hay không nữa. Jessica bắt đầu rón rén đi về bên phải dọc theo vòng đấu, đối diện với Paul.
Paul cúi người, khi đó cậu mới nhận ra mình không có tấm chắn, mà cậu thì lại được huấn luyện để chiến đấu khi có trường bảo vệ tinh vi của tấm chắn bao quanh mình, được huấn luyện để phản ứng khi phòng thủ với tốc độ tối đa nhưng đòn tấn công thì phải được tính toán về thời gian, được kiểm soát sao cho đủ chậm để xuyên thủng tấm chắn của kẻ thù. Mặc dù thường xuyên được các thầy cảnh báo không được quá nệ vào việc tấm chắn nghiễm nhiên làm chậm tốc độ tấn công, cậu vẫn biết rằng thói quen giao chiến có tấm chắn đã thành một