phần lớn là lừa bịp. Không khó để nhận ra thế nào là cách truyền giảng đúng đắn. Ta có thể nhận ra nó mà không hề nhầm lẫn bởi nó làm thức tỉnh trong ta cái cảm thức cho ta hiểu được đây là điều ta vốn vẫn luôn luôn biết.” Có một cảm giác bình yên kỳ lạ khi nhà in và các máy in shigawire chạy hết tốc lực và Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam được truyền bá khắp mọi thế giới. Vài người diễn giải điều này như một
dấu hiệu từ Thượng đế, một điềm báo về sự thống nhất. Nhưng chính các đại biểu của U.D.Đ.T. đã cho thấy sự bình yên đó là hư ngụy ngay sau khi người nào quay trở về giáo đoàn người nấy. Chỉ trong vòng hai tháng, mười tám người trong số đó bị hành hình. Năm mươi ba người khác thì tuyên bố khước từ tín ngưỡng ngay trong năm đó. Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam bị lên án là một công trình được tạo ra bởi “sự xấc xược của lý tính”. Nghe nói các trang sách tràn ngập mối quan tâm đầy cám dỗ đối với logic. Bắt đầu xuất hiện
những bản hiệu chỉnh phục vụ cho sự tin tưởng mù quáng của nhân dân. Các bản hiệu chỉnh này dựa trên những biểu tượng đã được chấp nhận (Thập tự, Lưỡi liềm, Lúc lắc gắn lông vũ, Mười hai vị Thánh, Phật gầy, vân vân) và không mất nhiều thời gian để thấy rõ rằng những mê tín và tín ngưỡng cổ xưa đã không bị chủ nghĩa đại đồng tôn giáo mới có này nuốt chửng. Cái danh hiệu mà Halloway dùng để gọi thành quả suốt bảy năm ròng của U.D.Đ.T. - “Thuyết tất định Pha Thiên hà (Galactophasic Determinism)” - đã được hàng tỉ người háo hức vồ ngay lấy, diễn các chữ viết tắt của cái tên này (G.D.) thành “God-Damned (Chết bầm
chết tiệt)”. Chủ tịch của U.D.Đ.T., Toure Bomoko, một Ulema của đạo Zensunni và một trong mười bốn đại biểu không bao giờ khước từ tín ngưỡng (“Mười bốn vị Thánh hiền” trong sử dân gian) hình như rốt cuộc cũng thừa nhận rằng U.D.Đ.T đã sai lầm. “Chúng tôi lẽ ra không nên cố tạo ra những biểu tượng mới,” ông nói. “Chúng tôi lẽ ra phải hiểu, việc của chúng tôi không phải là đưa những thứ không chắc chắn vào trong tín ngưỡng đã được chấp nhận, rằng chúng tôi không được khuấy động sự tò mò về Thượng đế. Chúng ta
phải hàng ngày đối mặt với sự bất ổn đáng sợ của tất cả những gì thuộc về con người, thế nhưng chúng ta lại để cho các tôn giáo của mình trở nên cứng nhắc và chặt chẽ hơn, cưỡng buộc và áp chế hơn. Bóng đen chắn ngang con đường của Lời răn Thiêng liêng này là cái gì vậy? Thật đáng báo động khi mà các thiết chế cứ trường tồn, các biểu tượng cứ trường tồn dù nghĩa của chúng đã mất, khi mà chúng ta không có được tổng kết nào từ vốn tri thức có thể thủ đắc.” Cái giọng điệu lập lờ chua cay trong lời “thú nhận” này không qua nổi con mắt của những người phê phán Bomoko và chẳng bao lâu sau ông buộc phải bỏ trốn,
tự lưu đày, mạng sống của ông phụ thuộc vào cam kết của Hiệp hội rằng sẽ giữ bí mật. Người ta nói ông chết ở Tupile, được trọng vọng và yêu mến, những lời cuối cùng của ông là: “Tôn giáo trước sau vẫn phải là một lối thoát cho những người tự bảo mình: ‘Ta không phải loại người ta muốn.’ Nó không bao giờ được phép suy đồi thành một bầy đoàn những kẻ tự mãn.” Thật thú vị khi nghĩ rằng Bomoko thấu hiểu sự tiên tri trong lời ông: “Các thể chế vẫn trường tồn.” Chín mươi thế hệ sau, Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam và sách Chú giải đã tràn lan khắp cùng vũ trụ tôn giáo.
Khi Paul Muad’Dib đứng đặt bàn tay phải lên ngôi đền đá bao bọc sọ của phụ thân Người (bàn tay phải của người được ban phúc, chứ không phải bàn tay trái của kẻ bị nguyền rủa), Người đã trích dẫn từng lời trong “Di sản của Bomoko”: “Các ngươi, kẻ đã đánh bại chúng ta, tự nhủ rằng Babylon đã bại vong và các công trình của nó đã bị lật đổ. Ta nói cho các ngươi biết rằng con người vẫn ngồi nơi tòa án, mỗi người trên ghế bị cáo của riêng mình. Mỗi người là một cuộc chiến tranh nhỏ.”
Người Fremen nói rằng Muad’Dib giống như Abu Zide, người từng chỉ huy chiếc tàu chiến đánh bại Hiệp hội, người từng bay đến nơi đó rồi trở lại. Từ nơi đó dùng theo cách này, được giải thích trực tiếp từ huyền thoại Fremen có nghĩa là vùng đất của linh hồn-ruh, cái alam almithal nơi mọi giới hạn bị triệt tiêu. Có thể dễ dàng nhìn thấy sự song hành giữa người này và Kwisatz Haderach. Kwisatz Haderach, người mà Nữ giáo đoàn tìm kiếm trong suốt chương trình nhân giống của họ, được hiểu là “Sự rút ngắn con đường” hay “Người có thể ở tại hai nơi cùng một lúc.”
Nhưng, có thể chỉ ra rằng cả hai cách hiểu này đều phát sinh trực tiếp từ sách Chú giải: “Khi luật pháp và nghĩa vụ tôn giáo là một, thì cái ngã của ngươi bao trùm vũ trụ.” Về chính mình, Muad’Dib nói: “Ta là một cái lưới trong biển thời gian, tự do ôm trọn tương lai và quá khứ. Ta là một cái màng di động mà không một khả năng nào có thể thoát ra khỏi nó.” Những tư tưởng đó tất thảy đều là một, và chúng đồng vọng với Kalima 22 trong Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam, viết rằng: “Dù một tư tưởng có được nói ra hay không thì nó vẫn là một thực thể
và có các quyền năng của thực tại.” Chính khi đọc các chú giải của Muad’Dib trong “Các trụ cột của vũ trụ”, có nghĩa là Qizara Tafwid theo như cách diễn giải của những tín đồ tôn sùng người, ta mới vỡ lẽ rằng thực ra Người mang nợ U.D.Đ.T. và truyền thống Zensunni của người Fremen. Muad’Dib: “Luật pháp và nghĩa vụ là một; mong sao như thế. Nhưng hãy nhớ những giới hạn này - Rằng ngươi không bao giờ hoàn toàn tự ý thức về mình. Rằng ngươi vẫn đắm chìm trong tau cộng đồng. Rằng ngươi luôn luôn kém hơn một cá nhân.”
Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam: Ngôn từ đồng nhất. (Khải ngôn 61). Muad’Dib: “Tôn giáo thường dự