phần vào huyền thoại về tiến bộ, cái huyền thoại che chở ta trước sự khủng khiếp của một tương lai bất định.” Sách Chú giải của U.D.Đ.T: Ngôn từ đồng nhất (Sách Azhar truy nguyên lời nói này tới tác gia tôn giáo từ thế kỷ thứ nhất là Neshou; được phát biểu lại bằng những từ ngữ khác). Muad’Dib: “Nếu một đứa trẻ, một người chưa được huấn luyện, một
người dốt nát hay một kẻ điên rồ gây nên chuyện phiền hà, thì giới cầm quyền mới là kẻ có lỗi vì đã không tiên liệu và ngăn chặn được chuyện phiền hà đó.” Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam: “Bất cứ tội ác nào cũng có thể quy - ít nhất là một phần - cho một khuynh hướng xấu tự nhiên vốn là tình tiết giảm nhẹ hình phạt được Thượng đế chuẩn thuận.” (Sách Azhar truy nguyên câu này tới sách Tawra cổ của người Xêmit). Muad’Dib: “Hãy vươn tay ra trước mà ăn thứ Thượng đế đã cho ngươi; và khi ngươi đã được no, hãy tạ ơn Thượng
đế.” Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam: Diễn giải bằng một câu khác có cùng ý nghĩa. (Sách Azhar truy nguyên tới một câu có hình thức hơi khác từ thời Hồi giáo thứ nhất). Muad’Dib: “Lòng nhân từ là khởi đầu của sự tàn ác.” Kitab al-Ibar của người Fremen: “Ảnh hưởng của một Thượng đế nhân từ là điều thật đáng sợ. Chẳng phải Thượng đế đã cho ta vầng mặt trời thiêu đốt (AlLat) sao? Chẳng phải Thượng đế đã cho ta những người Mẹ của Hơi ẩm (các Mẹ
Chí tôn) sao? Chẳng phải Thượng đế đã cho ta Shaitan (Iblis, Xa Tăng) sao? Chẳng phải từ Shaitan ta đã có sự tàn hại của tốc độ hay sao?” (Đây là nguồn gốc của câu châm ngôn Fremen: “Tốc độ từ Shaitan mà đến”. Hãy xem: cứ mỗi một trăm calo nhiệt năng sinh ra từ vận động [hay tốc độ], cơ thể lại bốc hơi chừng 170 gam mồ hôi. Theo ngôn ngữ Fremen mồ hôi là bakka hay nước mắt và, theo một cách phát âm, được dịch thành: “Tinh chất của sự sống mà Shaitan vắt ra từ linh hồn mi.”) Sự xuất hiện của Muad’Dib được Koneywell gọi là “đúng lúc về mặt tôn
giáo”, nhưng chuyện đúng lúc hay không chẳng có mấy can hệ ở đây. Như chính Muad’Dib đã nói: “Ta ở đây; cho nên...” Tuy nhiên, điều cốt tử để có thể thấu hiểu tác động của Muad’Dib về mặt tôn giáo là đừng bao giờ bỏ sót một điều: Fremen là dân tộc sống trong sa mạc, toàn bộ tổ tiên họ đã quen với những cảnh quan thù địch. Chủ nghĩa thần bí chẳng phải là khó nếu như ta phải sống sót từng giây một bằng cách vượt qua sự thù địch khắp xung quanh. “Người ở đó, cho nên...” Với một truyền thống như vậy, sự thống khổ là điều được chấp nhận - có lẽ như sự trừng phạt vô thức, nhưng được chấp
nhận. Và cũng nên lưu ý rằng nghi lễ của người Fremen cho phép người ta hầu như không phải mang chút cảm giác tội lỗi nào. Điều đó không nhất thiết bởi vì luật pháp và tôn giáo của họ giống hệt nhau, khiến cho sự bất tuân trở thành tội lỗi. Hẳn sẽ đúng hơn nếu nói rằng họ dễ dàng tự gột rửa tội lỗi cho mình bởi vì sự sinh tồn hàng ngày của họ đòi hỏi phải có những phán xét tàn bạo (thường là chết chóc) mà nếu ở một xứ sở ôn hòa hơn thì ắt đã khiến con người mang gánh nặng tội lỗi không thể nào chịu nổi. Đây có lẽ là một trong những căn nguyên khiến người Fremen chú trọng sự mê tín (bất chấp sự chăm nom của Missionaria
Protectiva). Cát huýt lên là một điềm báo, thì đã sao nào? Nếu lần đầu tiên nhìn thấy trăng thứ nhất thì phải làm hiệu bằng nắm đấm, vậy đã sao nào? Xác thịt của một người là của riêng anh ta, còn nước của anh ta thì thuộc về bộ tộc - và huyền nhiệm của sự sống không phải bài toán cần giải mà là thực tại cần trải nghiệm. Các điềm báo giúp ta nhớ điều này. Và chính vì ta ở đây, chính vì ta có tôn giáo ấy, nên chung cuộc thì chiến thắng không thể không thuộc về ta. Như dòng Bene Gesserit đã dạy suốt nhiều thế kỷ, từ lâu trước khi họ đụng đầu với người Fremen:
“Khi tôn giáo và chính trị đi trên cùng một chiếc xe, khi chiếc xe đó được một vị thánh sống (baraka) dẫn dắt, thì không gì có thể chắn ngang đường của nó.”
PHỤ LỤC III: TƯỜNG TRÌNH VỀ CÁC ĐỘNG CƠ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA BENE GESSERIT Sau đây là một trích đoạn từ bản Tổng thuật do các đại diện của Lệnh bà Jessica soạn thảo theo yêu cầu của chính bà ngay sau Vụ Arrakis. Sự vô tư không thiên vị của bản tường trình này đã đưa giá trị của nó vượt ra ngoài cái thường tình. Do Bene Gesserit đã hoạt động hàng bao thế kỷ sau sự che chắn của một ngôi trường nửa thần bí trong khi thực hiện chương trình nhân giống chọn lọc trên
con người, chúng ta có xu hướng trao cho họ nhiều uy thế hơn so với những gì họ xứng đáng nhận được. Những phân tích về cái “thử nghiệm dựa trên sự kiện” của họ trong Vụ Arrakis cho thấy trường này dốt nát một cách sâu xa về vai trò của chính mình. Người ta có thể biện luận rằng Bene Gesserit chỉ khảo sát được những sự kiện có sẵn chứ không thể tiếp cận trực tiếp Nhà tiên tri Muad’Dib. Nhưng ngôi trường này đã từng vượt qua những thử thách lớn hơn và sai lầm của nó ở đây còn đi xa hơn. Chương trình của Bene Gesserit nhằm
mục đích tạo ra một người mà họ gọi là “Kwisatz Haderach”, một thuật ngữ có nghĩa là “người có thể ở nhiều nơi cùng một lúc”. Nói đơn giản hơn, cái mà họ tìm kiếm là một con người có những năng lực tâm linh cho phép anh ta thấu hiểu và sử dụng những chiều thứ tự cao hơn. Họ đang gây giống nhằm tạo ra một siêu Mentat, một máy tính-con người mang một số khả năng tiên tri vốn có ở những người lái tàu của Hiệp hội. Giờ xin hãy lưu ý kỹ đến các dữ kiện sau: Muad’Dib, tên khai sinh Paul Atreides, là con của Công tước Leto, người mà huyết thống đã được theo dõi cẩn thận
suốt hơn một ngàn năm. Mẹ của Nhà tiên tri, Lệnh bà Jessica, là con ruột của Nam tước Vladimir Harkonnen và mang những đặc tính di truyền mà tầm quan trọng cốt tử của chúng đối với chương trình gây giống đã được biết đến hầu như suốt hai ngàn năm qua. Bà là một Bene Gesserit được gây giống và huấn luyện, và lẽ ra đã là công cụ tự nguyện cho dự án này. Lệnh bà Jessica được lệnh sinh hạ một người con gái thuộc dòng họ Atreides. Kế hoạch là cho đứa con gái này phối giống với Feyd-Rautha Harkonnen, cháu của Nam tước Vladimir, với khả năng rất cao là từ cuộc phối ngẫu đó một Kwisatz
Haderach sẽ ra đời. Nhưng thay vì vậy, vì những nguyên nhân mà bà thừa nhận chính bà cũng chưa bao giờ hiểu rõ, tì thiếp Lệnh bà Jessica đã bất tuân mệnh lệnh mà sinh ra một đứa con trai. Nội một điều này hẳn đã khiến Bene Gesserit phải cảnh giác trước khả năng có một biến tố bất kham đã bước vào mưu đồ của họ. Nhưng có những chỉ báo khác còn quan trọng hơn gấp bội mà họ hầu như đã bỏ qua: 1. Ngay từ nhỏ, Paul Atreides đã tỏ ra có khả năng tiên báo tương lai. Chàng nổi tiếng là có những thị kiến tiên tri chuẩn xác, thấu suốt và không thể giải thích
bằng hệ bốn chiều. 2. Mẹ Chí tôn Gaius Helen Mohiam, đức Tổng quản Bene Gesserit từng sát hạch tính người của Paul khi chàng mười lăm tuổi, khẳng định rằng trong cuộc sát hạch đó chàng đã vượt qua nhiều đau đớn hơn bất cứ người nào từng được ghi nhận trước đây. Vậy mà bà lại không lưu ý đặc biệt gì về điều đó trong báo cáo của mình! 3. Khi Gia tộc Atreides dời đến hành tinh Arrakis, dân Fremen ở đó nghênh đón chàng Paul trẻ tuổi như nghênh đón một nhà tiên tri, “giọng nói từ thế giới bên ngoài”. Dòng Bene Gesserit biết rõ
rằng sự khắc nghiệt của một hành tinh như Arrakis, với cảnh quan hoàn toàn là sa mạc, không hề có nước trên bề mặt, với đòi hỏi gắt gao của những nhu cầu nguyên thủy nhất cho sự sống còn, không tránh khỏi sản sinh ra một tỉ lệ lớn những người nhạy cảm với cái siêu nhiên. Thế nhưng phản ứng này của người Fremen, cùng cái nhân tố hiển nhiên là khẩu phần ăn ở Arrakeen có hàm lượng hương dược cao, lại bị các nhà quan sát Bene Gesserit né tránh, không nhắc tới. 4. Khi nhà Harkonnen cùng đám binh lính cuồng tín của Hoàng đế Padishah tái chiếm Arrakis, giết chết phụ thân của Paul và hầu hết quân đội Atreides, Paul
và mẹ chàng đã biến mất. Nhưng gần như ngay sau đó xuất hiện những báo cáo về một lãnh tụ tôn giáo mới của người Fremen, tên gọi là Muad’Dib, người mà một lần nữa được nghênh đón như “tiếng nói từ thế giới bên ngoài”. Các báo cáo này nói rõ rằng đi cùng với ông ta còn có một Mẹ Chí tôn mới thuộc Sayyadina, “là người phụ nữ đã sinh hạ Người”. Các hồ sơ mà Bene Gesserit thu thập được nói thẳng ra rằng các truyền thuyết Fremen về Nhà tiên tri bao hàm lời này: “Người sẽ được sinh hạ từ một phù thủy Bene Gesserit.” (Người ta có thể tranh luận rằng từ hàng bao nhiêu thế kỷ trước, Bene Gesserit đã
cử đoàn Missionaria Protectiva của mình đến Arrakis để ươm mầm một thứ giống như truyền thuyết này nhằm có được sự bảo vệ phòng trường hợp bất kỳ thành viên nào của trường này bị kẹt ở đó và cần nơi trú ẩn, và rằng cái truyền thuyết về “tiếng nói từ thế giới bên ngoài” này có thể bỏ hẳn sang một bên được, bởi hình như nó chỉ là cái mẹo mà Bene Gesserit hay dùng. Nhưng điều này chỉ đúng nếu ta công nhận rằng Bene Gesserit đã đúng khi bỏ qua những manh mối khác về Paul Muad’Dib.) 5. Khi Vụ Arrakis bùng lên, Hiệp hội Không gian tiến hành đàm phán với Bene Gesserit. Hiệp hội bóng gió rằng những
người lái tàu của họ, những kẻ dùng hương dược của Arrakis nhằm tạo ra năng lực tiên tri giới hạn cần thiết để lái tàu vũ trụ qua không gian, đều “lo ngại về tương lai” hoặc nhìn thấy “những vấn nạn ở chân trời”. Điều này chỉ có thể có nghĩa là họ thấy một điểm kết nối, nơi gặp gỡ của vô số quyết định tinh vi, mà ở bên ngoài đó thì con đường bị che khuất trước con mắt tiên tri. Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy một tác nhân nào đó đang can thiệp vào những chiều thứ tự cao hơn! (Một vài Bene Gesserit từ lâu đã biết rằng Hiệp hội không thể can thiệp trực tiếp vào nguồn hương dược trọng yếu
bởi những người lái tàu của Hiệp hội xưa nay vẫn biết ứng phó với các chiều thứ tự cao hơn theo cách vụng về của riêng mình, ít nhất là đến mức nhận ra rằng một sơ suất nhỏ nhất của họ trên Arrakis cũng có thể dẫn tới tai họa. Điều ai cũng biết là, những người lái tàu của Hiệp hội không thể tiên đoán nổi liệu có phương cách làm chủ hương dược nào mà lại không cần tạo ra một điểm kết nối phức tạp như thế không. Kết luận hiển nhiên là, một ai đó có năng lực thứ tự cao hơn đang kiểm soát nguồn hương dược, thế nhưng Bene Gesserit đã hoàn toàn không thấy được điểm này!) Trước những sự kiện đó, người ta không
khỏi đi đến kết luận rằng cách hành xử kém cỏi của Bene Gesserit trong vụ này là sản phẩm của một mưu đồ còn cao hơn mà họ hoàn toàn không biết tới!
PHỤ LỤC IV: NIÊN LỊCH EN-ASHRAF (Trích đoạn chọn lọc về các Hoàng tộc) SHADDAM IV (10.134 - 10.202) Hoàng đế Padishah, vị thứ 81 trong dòng họ ngài (Gia tộc Corrino) ngự ở Ngai Kim Sư, trị vì từ năm 10.156 (ngày mà phụ thân ngài, Elrood IX, qua đời vì độc dược chaumurky) cho tới năm 10.196 thì bị thay thế bởi thời kỳ Nhiếp chính được thiết lập nhân danh ái nữ đầu lòng của ngài là Irulan. Trong thời trị vì của ngài đáng chú ý nhất là sự kiện Loạn Arrakis, bị nhiều sử gia quy kết là do Shaddam IV
chìm đắm trong những lễ lạc xa hoa và do sự hào nhoáng của cung đình. Số người mang cấp bậc Burseg tăng gấp đôi trong mười sáu năm đầu ngài trị vì. Ngân sách huấn luyện quân Sardaukar teo tóp dần trong ba mươi năm cuối trước Loạn Arrakis. Ngài có năm ái nữ (Irulan, Chalice, Wensicia, Josifa và Rugi) nhưng không có hoàng nam chính thức. Bốn ái nữ theo ngài về ẩn cư. Phu nhân của ngài, Anirul, một Bene Gesserit Cấp bậc Ẩn, mất năm 10.176. LETO ATREIDES (10.140 - 10.191) Một người họ hàng bên đằng ngoại của dòng Corrino, ông thường được gọi là
Công tước Đỏ. Hai mươi thế hệ Atreides đã cai trị Caladan như một thái ấp siridar cho tới khi bị buộc phải chuyển sang Arrakis. Ông được biết đến chủ yếu với vai trò phụ thân của Công tước Paul Muad’Dib, Nhiếp chính Umma. Di hài của Công tước Leto nằm trong “Mồ Sọ” trên Arrakis. Cái chết của ông được cho là bởi sự phản bội của một bác sĩ trường Suk, và do âm mưu của Nam tướcSiridar Vladimir Harkonnen. LỆNH BÀ JESSICA (thành viên danh dự của Gia tộc Atreides) (10.154 - 10.256) Con gái ruột (có liên hệ với Bene Gesserit) của Nam tước-Siridar
Vladimir Harkonnen. Thân mẫu của Công tước Paul Muad’Dib. Bà tốt nghiệp trường Bene Gesserit Wallach IX. CÔNG NƯƠNG ALIA ATREIDES (10.191 - Con gái hợp pháp của Công tước LetoAtreides và Lệnh bà Jessica, tì thiếp chính thức của ngài. Công nương Alia sinh hạ ở Arrakis khoảng tám tháng sau khi Công tước Leto tạ thế. Ngay từ lúc chưa ra đời bà đã tiếp xúc với chất gây mê quang phổ nhận thức, người ta thường cho rằng đó là lý do khiến các Bene Gesserit gọi bà là “Kẻ đáng nguyền rủa”. Trong sử dân gian người ta thường gọi
bà bằng cái tên Thánh Alia hay Thánh Alia Con Dao (Muốn biết tiểu sử chi tiết, xem Thánh Alia, Người săn một tỷ thế giới của Pander Oulson). VLADIMIR HARKONNEN (10.110 - 10.193) Thường được gọi là Nam tước Harkonnen, tước hiệu chính thức của ông là Nam tước-Siridar (tức Thống đốc hành tinh). Vladimir Harkonnen là hậu duệ nam giới trực hệ của Bashar Abulurd Harkonnen, người từng bị trục xuất sau Trận chiến Corrin vì thái độ hèn nhát. Việc Gia tộc Harkonnen trở lại nắm quyền thường được cho là nhờ sự khéo
léo lèo lái thị trường da cá voi và sau đó được củng cố bằng nguồn của cải hương dược từ Arrakis. Nam tước-Siridar mất ở Arrakis trong thời Nổi loạn. Ít lâu sau đó tước hiệu của ông được truyền cho chuẩn Nam tước Feyd-Rautha Harkonnen. BÁ TƯỚC HASIMIR FENRING (10.133 - 10.225) Một người họ hàng về bên ngoại của Gia tộc Corrino, ông là bạn thuở nhỏ của Hoàng đế Shaddam IV (Lịch sử sao chép về Corrino, một cuốn sách thường xuyên bị ngờ vực, kể lại câu chuyện thú vị rằng Fenring là người phải chịu trách
nhiệm về việc dùng chaumurky để loại bỏ Hoàng đế Elrood IX). Mọi cứ liệu đều thống nhất rằng Fenring là người bạn thân nhất của Shaddam IV. Những công việc mà Bá tước Fenring thực hiện cho Đế chế bao gồm làm Đại diện của Đế chế tại Arrakis trong thời kỳ nhà Harkonnen cai trị ở đó và rồi làm Siridar-Absentia ở Caladan. Ông cùng Shaddam IV về quy ẩn ở hành tinh Salusa Secundus. BÁ TƯỚC GLOSSU RABBAN (10.132 - 10.193) Glossu Rabban, Bá tước vùng Lankiveil, là cháu trai lớn nhất của Vladimir
Harkonnen. Glossu Rabban và FeydRautha Rabban (người này lấy họ Harkonnen khi được chọn làm thành viên của gia đình Nam tước-Siridar) là con hợp pháp của Abulurd, bán huynh đệ nhỏ tuổi nhất của Nam tước-Siridar. Khi được giao chức thống đốc tiểu hạt Rabban-Lankiveil, Abulurd đã từ bỏ họ Harkonnen và mọi quyền hạn đối với tước hiệu này. Rabban là một họ bên dòng ngoại của gia đình.
Thuật ngữ của Đế quốc Khi nghiên cứu về Đế quốc, Arrakis, và toàn bộ nền văn hóa đã sản sinh ra Muah’Dib, bạn sẽ gặp nhiều thuật ngữ lạ. Nâng cao hiểu biết là một mục đích đáng được tán dương, vì vậy mới có các định nghĩa và giải thích dưới đây. A ABA: loại áo dài không bó, phụ nữ Fremen hay mặc; thường màu đen. ACH: rẽ trái; hiệu lệnh của người cưỡi sâu cát.
ADAB: ký ức nghiệt ngã tự đến với chúng ta. AKARSO: một loài cây xuất xứ từ Sikun (thuộc chòm sao 70 Ophiuchi A), nét đặc trưng là hầu hết lá đều có hình chữ nhật. Những sọc xanh lục và trắng của cây này cho biết trạng thái thường trực của nó là sự tồn tại song song của các vùng diệp lục tố hoạt động và diệp lục tố không hoạt động. ALAM AL-MITHAL: thế giới huyền bí nơi mọi vật giống nhau, mọi giới hạn vật lý không còn nữa.
AL-LAT: mặt trời nguyên thủy của con người; nghĩa mở rộng: đại cổ sinh của bất cứ hành tinh nào. AMPOLIROS: “Người Hà Lan bay” huyền thoại trong vũ trụ. AMTAL hay LUẬT AMTAL: một luật chung chi phối các thế giới sơ cấp, theo đó mọi vật đều được kiểm tra để xác định những hạn chế hoặc khiếm khuyết của nó. Nghĩa thường dùng: kiểm tra trước khi phá hủy. ÁO CHOÀNG JUBBA: áo choàng đa dụng (có thể điều chỉnh để phản chiếu hay hấp thụ nhiệt bức xạ, có thể chuyển
thành võng hay lều), ở Arrakis người ta thường mặc ngoài bộ sa phục. AQL: bài kiểm tra lý trí. Nguyên thủy là “Bảy câu hỏi huyền bí” mở đầu bằng “Ai là kẻ tư duy?” ARRAKEEN: khu định cư đầu tiên trên Arrakis; có ghế dài hạn trong chính phủ hành tinh. ARRAKIS: hành tinh được gọi là Dune (Xứ Cát); hành tinh thứ ba của hệ Canopus. AULIYA: trong tôn giáo của các Hành giả Zensunni, là người nữ bên tay trái
Thượng đế; hầu gái của Thượng đế. AUMAS: thuốc độc được chuốc vào thức ăn (đặc biệt là thuốc độc trong thức ăn ở thể rắn). Một số phương ngữ gọi là Chaumas. AYAT: dấu hiệu của sự sống. (Xem Burhan). B B.G.: cách viết tắt dùng riêng cho Bene Gesserit, trừ khi dùng với ngày tháng. Nếu đi kèm ngày tháng, B.G. có nghĩa là Trước thời Hiệp hội (Before Guild) và được dùng để chỉ hệ thống lịch của Đế
quốc dựa trên thời điểm ra đời nền độc quyền của Hiệp hội Không gian. BAKKA: trong truyền thuyết Fremen, là người khóc mướn khóc than cho toàn nhân loại. BAKLAWA: một thứ bánh ngọt khó tiêu làm bằng xi rô chà là. BALISET: nhạc cụ chín dây, hậu duệ trực hệ của đàn zithra, được chỉnh theo điệu thức Chusuk, chơi bằng cách gảy dây. Nhạc cụ ưa thích của những người hát rong thuộc Đế quốc. BÁN HUYNH ĐỆ: con cái của các tì
thiếp trong cùng một gia đình và được chứng nhận là cùng một cha. BÃO CORIOLIS: bất kỳ trận bão cát lớn nào trên hành tinh Arrakis, nơi gió thổi qua những vùng đồng bằng rộng lớn được phóng đại bởi chuyển động quay vòng của chính hành tinh nên có thể đạt tới vận tốc 700 km/giờ. BARAKA: một vị thánh sống, có những năng lực thần bí. BASHAR (thường gọi là Đại tá Bashar): sĩ quan của đội quân Sardaukar, cao hơn một chút so với Đại tá trong hệ thống cấp bậc quân đội Chuẩn. Là cấp bậc được
đặt ra cho lãnh tụ quân sự của một tiểu khu thuộc hành tinh. (Bashar của quân đoàn là một chức vị chỉ dành riêng cho giới quân sự). BẪY CÁT: bất kỳ kẽ nứt sâu hay chỗ lõm nào trên sa mạc Arrakis bị bụi lấp đầy, có vẻ như không có gì khác với bề mặt xung quanh; một cái bẫy chết người vì người hay thú có thể sẩy chân rơi xuống và bị chết ngạt. (Xem Trũng cát có sa triều). BẪY GIÓ: một thiết bị đặt trên đường di chuyển của một loại gió thường thổi trong khu vực, có khả năng làm ngưng tụ hơi ẩm từ không khí bên trong nó, thường
bằng cách làm nhiệt độ bên trong bẫy giảm xuống đột ngột và đáng kể. BEDWINE: xem Ichwan Bedwine. BELA TEGEUSE: hành tinh thứ năm của hệ Kuentsing: nơi dừng chân thứ ba trong cuộc di cư bắt buộc của người Zensunni (tức Fremen). BENE GESSERIT: ngôi trường cổ chuyên đào tạo về tâm thức và thể chất, được sáng lập dành cho học viên nữ, sau khi cuộc Thánh chiến Butler phá hủy cái được gọi là những “cỗ máy biết nghĩ” và robot.
BHOTANI JIB: xem Chakobsa. BI-LA KAIFA: Amen. (Nghĩa đen: “Không cần giải thích thêm gì nữa.”) BIÊN BẢN LUẬN TỘI: một bản báo cáo nửa chính thức quy cho ai đó tội chống lại Đế quốc. Về mặt luật pháp: là một tuyên bố ở giữa lời buộc tội mơ hồ bằng miệng và lời buộc tội chính thức. BIỂN CÁT (ERG): một vùng cồn cát kéo dài. BINDU: liên quan đến hệ thống thần kinh của con người, đặc biệt là khi nói về sự rèn luyện hệ thần kinh. Thường được
diễn đạt bằng cụm từ bindu-nervature, nghĩa là sự làm chủ hệ thần kinh. (Xem Prana). BLED: sa mạc phẳng, trơ trụi. BỌ CÁT: từ dùng gọi chung các máy móc được thiết kế để hoạt động trên bề mặt Arrakis trong việc săn tìm và thu thập melange. BOURKA: áo choàng không tay cách nhiệt mà phụ nữ Fremen mặc ở vùng sa mạc. BURHAN: những thử thách của cuộc sống. (Thường dùng: ayat và burhan của
cuộc sống. Xem Ayat). BURSEG: một tướng chỉ huy của đội quân Sardaukar. C CAID: cấp bậc sĩ quan Sardaukar, dành cho một sĩ quan quân đội có nhiệm vụ chủ yếu là quan hệ với dân thường; tổng trấn quân sự cai quản trọn một khu của hành tinh; trên cấp Bashar nhưng không ngang hàng với Burseg. CALADAN: hành tinh thứ ba của hệ Delta Pavonis; nơi chôn nhau cắt rốn của Paul Muad’Dib.
CANTO và RESPONDU: một nghi thức cầu khấn, một phần Tổng bộ Thánh thư của Missionaria Protectiva. CÁT TRỐNG: lực tác động của cát khiến cho bất kỳ va đập bất ngờ nào trên bề mặt cát cũng làm phát ra tiếng trống rất rõ ràng. CẮM CỌC ĐOÁN THỜI TIẾT: nghệ thuật xếp những chiếc cọc bằng chất dẻo và vật liệu sợi trên những vùng sa mạc hoang vu của Arrakis rồi đọc các mẫu hình do bão cát khắc vào cột mà tiên đoán thời tiết.
CẬN LA BÀN: loại la bàn định hướng bằng sự bất thường của từ trường cục bộ; được dùng ở nơi có các đồ thị liên quan và ở nơi từ trường chung của một hành tinh không ổn định hoặc bị những trận bão từ mạnh gây nhiễu. CÂY NHO MỰC: một loài cây bò, gốc gác ở hành tinh Giedi Prime, thường được dùng làm roi ở các khu nô lệ. Vết đánh để lại trên mình nạn nhân giống như những hình xăm màu củ cải đường, đau âm ỉ suốt nhiều năm. CHAKOBSA: cái được gọi là “ngôn ngữ nam châm”, một