Bụi Kí 1

phần

phần

phần mười sức chứa của mình. Tôi từng thấy lúc tệ hơn thế nhiều...” “Quản lí tài nguyên một cách khoa học...” “Tất cả đều phụ thuộc vào trạng thái của tầng khí quyển cao...” “Đang khô dần rồi, cứ chờ mà xem...” “Bà tôi...” “Không, bây giờ chúng ta đã phải chịu đợt mưa tồi tệ nhất rồi.” “Mang cho bọn này một ly Badger nữa được không, Malcolm?” Khi Malcolm chuẩn bị đi ngủ, Asta nói: “Ông van Texel biết nhiều hơn hẳn họ.” “Nhưng chúng ta có cảnh báo thì họ cũng chẳng buồn nghe đâu, ” cậu bảo. “Đừng quên tra từ đó...” “À đúng rồi!” Malcolm lao vào phòng sinh hoạt để tìm cuốn từ điển gia đình. Cậu định tra cách diễn đạt mà Tiến sĩ Relf đã sử dụng khi cậu kể cho cô về cái vòng dát vàng. Cậu biết “chứng đau nửa đầu” có nghĩa là gì, vì thỉnh thoảng mẹ cậu cũng mắc, chỉ có điều bà gọi nó là “đau một bên đầu” còn Tiến sĩ Relf lại gọi là “đau nửa đầu”. Nhưng từ còn lại... “Đây rồi. Tớ cho là vậy.” Chim cổ đỏ Asta nhòm vào trang giấy từ cẳng tay cậu rồi đọc lên: “Aurora (Cực quang): một hiện tượng phát sáng trên bầu

trời thuộc tính mạch được quan sát thấy ở các vùng Cực, với sự chuyển động dữ dội và những dải ánh sáng, đôi khi được biết tới dưới cái tên Bắc Cực Quang...’ Cậu có chắc là từ đó không? Nghe giống ‘Lyra’ hay ‘Laura’ gì đó mà.” “Không, là từ này đó, ” Malcolm quả quyết bảo. “Cực quang. Đó là Bắc Cực Quang, trong đầu tớ.” “Nhưng nó có nhắc gì đến dát vàng đâu.” “Có lẽ mỗi lần lại một khác. Nó cũng dữ dội và toả sáng mà. Bất cứ thứ gì tạo ra Bắc Cực quang thì cũng gây ra cái vòng dát vàng, đảm bảo luôn!” Ý tưởng rằng những gì bên trong đầu cậu có tiếp xúc trực tiếp với những vùng trời xa xôi trên miền Cực Bắc cho cậu một cảm giác về một đặc quyền vô biên và thậm chí cả nỗi kinh sợ nữa. Asta vẫn chưa thấy thuyết phục lắm, nhưng cậu bé thì đang rộn ràng xúc động. Sáng ra, cậu nôn nóng muốn lao ra ngoài để nhìn chiếc xuồng dưới ánh nắng mặt trời, nhưng cha cậu lại muốn cậu giúp dọn dẹp quán sau buổi tối bận rộn. La Belle Sauvage sẽ phải đợi thôi. Vậy là cậu vội vã chạy giữa những dãy bàn và nhà bếp, quàng ngón tay qua càng nhiều quai cầm cốc vại càng tốt hay cầm bốn cốc với ba ngón, mỗi ngón quặp vào một cốc và hai ngón còn lại trong cốc thứ tư. Khi đem chúng tới cho Alice ở buồng rửa bát, nơi cậu thường chỉ đặt chúng xuống quầy rồi bỏ đi mà không nói câu nào, có điều gì đó đã khiến cậu ngừng lại và nhìn cô. Sáng nay cô có vẻ sao nhãng một cách bất thường, như thể có thứ gì đó vướng bận trong đầu. Cô cứ nhìn quanh quất, hắng giọng như chuẩn bị nói, quay trở lại với bồn rửa, liếc nhìn Malcolm. Cậu bị thôi thúc muốn nói, “Gì thế? Có chuyện gì à?” nhưng lại giữ miệng. Rồi đến một lúc mà mẹ cậu ra khỏi bếp. Alice nhìn thẳng vào Malcolm rồi thì thào rất khẽ: “Này, em biết mấy bà sơ chứ?” Ban đầu Malcolm quá ngạc nhiên để có thể trả lời. Cậu vừa mới cầm nửa tá cốc sạch lên, sẵn sàng đem chúng trở lại quán Ở

nhậu nhưng liền đặt chúng xuống và nói: “Ở tu viện ấy à?” “Đương nhiên rồi. Đó là những người duy nhất, không phải sao?” “Không. Có những người khác ở những nơi khác. Họ làm sao?” “Họ đang trông nom một đứa bé à?” “Phải.” “Em có biết là con của ai không?” “Có, em biết. Thế thì sao?” “À, có một người đàn ông mà... Kể cho em sau.” Mẹ của Malcolm vừa quay lại. Alice gục đầu xuống rồi thọc hai tay vào bồn nước. Malcolm lại cầm đống cốc lên rồi đem chúng đi, và thấy cha mình đang đọc báo. “Ba, ” cậu lên tiếng, “ba có nghĩ là sắp có lũ không?” “Đó là thứ mà người ta cứ bàn tán suốt tối qua đấy à?” Cha cậu nói, gập ngược trang thể thao lại. “Vâng. Chú Addison thì nghĩ là không có, vì không khí từ phương Bắc rất khô, và sắp tới sẽ có cả một tháng ngập nắng, nhưng chú Twigg lại nói bà của chú ấy...” “Ôi, đừng có để ý đến họ. Vụ cái xuồng của con là sao đấy? Mẹ con nói có một người du mục đã đến nhà mình tối hôm qua.” “Ba nhớ Ngài Asriel chứ ạ? Con đã cho ông ấy mượn, rồi người đàn ông kia đem tới trả.” “Ba không biết ông ấy lại là bạn bè của dân du mục đấy. Ông ấy muốn mượn xuồng của con để làm gì?” “Vì ông ấy thích chèo xuồng và muốn chèo ngược dòng sông dưới ánh trăng.” “Không thể nào lí giải được một vài người. May mà con nhận lại được nó rồi. Nó ổn chứ?” “Còn tuyệt hơn mọi khi ạ. Mà ba ạ, người đàn ông du mục đó nói rằng sắp có thêm nhiều mưa đổ xuống sau đợt nắng ngắn ngủi này, kéo theo đó là cơn lũ khủng khiếp nhất trong một trăm năm.”

“Vậy sao?” “Ông ấy nói phải cảnh báo với ba. Vì những người du mục có thể đọc được những dấu hiệu trong dòng nước và trên bầu trời.” “Con đã cảnh báo cho mấy ông bạn tối qua chưa?” “Chưa ạ, vì họ đã hơi ngà ngà say nên con nghĩ họ sẽ không lắng nghe đâu. Nhưng ông ấy có nói phải cảnh báo ba.” “Chà, họ là những con người của sông nước, dân du mục ấy... Cũng đáng để biết, chỉ để suy nghĩ về nó thôi. Nhưng không cần phải quá coi trọng.” “Ông ấy nói rất hệ trọng mà. Chuẩn bị sẵn sàng đón lũ cũng đâu mất gì đâu ạ.” Ông Polstead cân nhắc vấn đề. “Cũng đúng,” ông nói. “Giống như Noahh [10] . Con có nghĩ ba và mẹ có thể ngồi vừa La Belle Sauvage cùng với con không?” “Không ạ, ” Malcolm quả quyết. “Nhưng ba phải sửa thuyền đáy bằng đi. Và có lẽ mẹ sẽ phải trữ bột và những thứ khác trên này chứ không phải dưới hầm.” “Ý tưởng hay đấy, ” cha cậu nói rồi trở lại với trang báo thể thao. “Đi nói với mẹ đi. Con đã dọn xong phòng Ban Công chưa?” “Con đang định đi đây.” Khi thấy mẹ mình bước vào quán và bắt đầu thảo luận với cha về rau củ, Malcolm cầm lấy đống cốc trong phòng Ban Công rồi vội vã chạy vào bếp. “Vụ người đàn ông thế nào cơ?” Cậu hỏi Alice. “Không biết chị có nên nói không nữa.” “Nếu nó liên quan đến đứa bé... chị đã nói gì đó về đứa bé, rồi đến một người đàn ông. Người đàn ông nào?” “À, chị không biết. Có lẽ chị đã nói quá nhiều.” “Không, chị chưa nói đủ. Người đàn ông nào?” Cô bé nhìn quanh. “Chị không muốn gặp rắc rối,” cô nói. “Chỉ nói với em thôi. Em sẽ không mách lẻo gì đâu.”

“Được rồi... cái người đàn ông này, linh thú của ông ấy bị mất một chân. Nó là một con linh cẩu hay gì đấy. Xấu phát khiếp. Nhưng ông ấy thì lại tử tế, hoặc tỏ ra khá tử tế.” “Ừ, em đã thấy ông ta. Vậy là chị gặp ông ta rồi?” “Kiểu như vậy, ” cô bé nói, rồi má cô đỏ lựng lên nên cô liền quay đi. Con linh thú quạ gáy xám của cô nhìn xuống từ trên vai rồi quay đầu đi khỏi Malcolm. Sau đó cô bé nói tiếp: “Chị đã nói chuyện một ít với ông ấy.” “Khi nào?” “Tối hôm qua. Dưới Jericho. Ông ấy đã hỏi về đứa bé trong tu viện, các sơ, đủ thứ chuyện...” “Ý chị đủ thứ chuyện là gì? Còn gì nữa?” “À, ông ấy nói mình là cha của đứa bé.” “Không phải! Cha của em bé là Ngài Asriel. Em biết điều đó mà.” “Nhưng ông ấy nói vậy, ông ấy muốn biết liệu họ có giữ an toàn cho nó trong tu viện không, liệu họ có khoá cửa vào ban đêm...” “Cái gì?” “Rồi có bao nhiêu nữ tu ở đó.” “Ông ta có cho chị biết tên không?” “Gerard. Gerard Bonneville.” “Ông ta có nói tại sao mình muốn biết về các sơ và đứa bé không?” “Không. Bọn chị không chỉ nói về mỗi chuyện đó. Nhưng... chị không biết nữa... Nó khiến chị cảm thấy kì lạ lắm. Con linh thú của ông ấy thì cứ nhay nhay cái chân rỉ máu của nó... Có điều ông ấy lại rất tử tế. Ông ấy đã mua cho chị cá chiên xù kèm khoai tây chiên.” “Ông ta có một mình à?” “À, phải.” “Còn chị? Chị có người bạn nào đi cùng không?” “Nếu có thì sao?”

“Điều đó có thể khiến ông ta nói khác đi.” “Chị đi một mình.” Malcolm không biết phải hỏi gì thêm. Rõ ràng việc tìm ra bất cứ điều gì mà cậu có thể là rất quan trọng, nhưng lúc đó óc tưởng tượng của cậu lại bị giới hạn: Cậu không thể hình dung ra một người đàn ông trưởng thành sẽ muốn gì với một cô gái đơn độc giữa đêm, hay điều gì có thể xảy ra giữa họ. Cậu cũng không thể hiểu tại sao cô bé lại đỏ mặt. “Linh thú của chị có nói chuyện với con linh cẩu không?” Cậu hỏi sau khi ngừng một lúc. “Nó có thử một chốc nhưng con linh cẩu không nói gì cả.” Cô bé nhìn xuống bồn rửa rồi thọc hai tay vào làn nước. Mẹ của Malcolm đã trở lại từ quán nhậu. Malcolm đem số cốc sạch ra, rồi thời điểm đó trôi qua. Nhưng khi Alice đã hoàn thành công việc buổi sáng và đang khoác áo lên để ra về, Malcolm nhìn thấy rồi bắt kịp cô ở cổng vòm. “Alice - đợi chút đã...” “Em muốn gì?” “Người đàn ông đó - với con linh thú linh cẩu...” “Quên chuyện đó đi. Đáng ra chị không nên nói gì cả.” “Chỉ là có người đã cảnh báo với em về ông ta.” “Ai cơ?” “Một người du mục. Ông ấy bảo không được lại gần ông ta.” “Tại sao?” “Em không biết. Nhưng ông ấy rất nghiêm túc. Dù sao thì, nếu chị gặp lại ông ta, ý em là Bonneville, chị có thể cho em biết ông ta nói gì không?” “Không phải việc của em. Đáng ra chị không nên nói với em.” “Vì em lo cho các sơ, chị biết đấy. Em biết họ đang lo lắng về an ninh và các thứ, họ nói với em như vậy. Đó là lí do họ lắp thêm cửa chớp mới. Vậy nên nếu cái ông Bonneville này định tìm hiểu về họ...”

“Ông ấy rất tử tế. Chị đã nói với em rồi. Có lẽ ông ấy muốn giúp đỡ họ.” “Chậc, vấn đề là, ông ta đã vào đây tối hôm trước và chẳng có ai muốn lại gần ông ta cả. Cứ như họ đang hoảng sợ ấy. Ba em nói rằng nếu ông ta lại đến nữa, ba sẽ không để cho ông ta vào, vì ông ta đuổi những vị khách khác đi. Họ biết điều gì đó về ông ta, cứ như ông ta đã đi tù hay gì đó vậy. Rồi lại có người du mục kia cảnh báo với em về ông ta.” “Ông ấy không làm chị lo lắng.” “Nhưng nếu chị gặp lại ông ta, chị có thể cho em biết không?” “Chắc là được.” “Đặc biệt là nếu ông ta hỏi về đứa bé.” “Sao em lo lắng cho đứa bé thế?” “Vì nó mới chỉ là một đứa bé. Chẳng có ai bảo vệ nó ngoài các sơ cả.” “Vậy em nghĩ mình thì có thể? Phải không? Em sẽ cứu đứa trẻ khỏi người đàn ông to lớn xấu xa sao?” “Chỉ cần báo cho em biết, được không?” “Chị đã đồng ý rồi còn gì. Đừng có nói thêm về chuyện đó nữa.” Cô bé quay người rồi đùng đùng bỏ đi một cách vội vã trong ánh nắng nhợt nhạt. Chiều hôm đó Malcolm tới căn nhà chái để kiểm tra sự đổi mới của La Belle Sauvage. Lớp vải dầu làm từ lụa than vừa nhẹ vừa không thấm nước (cậu đã thử) đúng như ông van Texel đã nói, còn những cái kẹp để gắn nó vào mép thuyền lại dễ thao tác và đính chắc như đinh. Nó có màu xanh mướt, giống như chính con thuyền, và cậu nghĩ rằng khi nó được gắn cố định, cậu và con thuyền của mình sẽ trở nên gần như vô hình. Dòng nước đang chảy rất xiết nên cậu quyết định không đem nó ra để thử độ trơn của lớp sơn mới, nhưng những đầu ngón tay đã cho cậu biết sự khác biệt: Thật là một món quà tuyệt vời!

Không còn sự bất ngờ nào trong chiếc xuồng nữa, nên Malcolm kéo lớp vải dầu cũ kĩ phủ lên nó rồi đảm bảo rằng nó đã được kẹp chắc. “Trời có thể sẽ lại đổ mưa, ” cậu nói với Asta. Nhưng chẳng có dấu hiệu gì của điều đó cả. Ánh nắng lạnh lẽo kéo dài suốt cả ngày, bầu trời đỏ lựng lên khi mặt trời chìm xuống, báo hiệu ngày mai lại có nắng. Vì trời trong nên tối hôm đó lạnh đến thấu xương, lần đầu tiên trong nhiều tuần liền ở quán Cá

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 49

Đang tải bình luận...