phần cũng giống nhau cả thôi. Các cháu đun nước kiểu gì?” “Chúng cháu nhóm lửa. Chúng cháu có một cái xoong. Đó là cách bọn cháu đun nước tắm cho cô bé nữa.” “Rất tháo vát. Ấn tượng đấy. Còn gì không?” “Tã lót?” Ồ
“Ồ phải. Chúng ở ngăn dưới cùng, nên chỗ này không dùng được rồi. Ta sẽ xem xem ở đằng sau có còn cái nào không.” Malcolm đang đổ một ít thuốc vào trong thìa. “Chị bế Lyra lên được không?” Cậu nói với Alice, rồi thì thào: “Còn có người khác ở đây. Ông ta đi ra ngoài để nói chuyện với họ rồi.” “Hi vọng là nó ngon, không thì con bé sẽ nhổ ra mất, ” Alice nói, rồi lẩm nhẩm đáp lại, “Chị thấy bà ta rồi. Bà ta cứ né khỏi tầm nhìn suốt.” “Nào, Lyra, ” Malcolm nói. “Ngồi dậy nào. Ngoan nào, bé yêu. Há miệng ra coi.” Cậu thả một giọt chất lỏng màu hồng lên môi cô bé. Lyra bừng tỉnh và bắt đầu càu nhàu, rồi khi nếm thấy có thứ lạ, nó liền chọp chẹp môi. “Ngon chứ? Thêm một giọt nữa này, ” Malcolm tiếp tục. Alice đang chăm chú nhìn vào ảnh phản chiếu trên tấm gương của một tủ thuốc. “Chị có thể nhìn thấy họ. Ông ta đang thì thầm với bà ta... Bà ta ra ngoài rồi,” cô lẩm bẩm. “Lũ khốn. Chúng ta nên đi khỏi đây nhanh.” Ông chủ cửa hàng quay lại. “Của các cháu đây, ” ông nói. “Tôi đã nghĩ mình còn vài túi nữa. Các cháu có cần gì nữa không?” “Cháu có thể lấy một cuộn băng dán kia được không ạ?” Malcolm hỏi. “Cháu nên lấy mấy miếng băng dán cá nhân rời thì hơn chứ nhỉ?” “Cháu cần nó để sửa một thứ ạ.” “Vậy thì cứ lấy đi.” “Ông thật tốt bụng. Cảm ơn ông rất nhiều.” “Các cháu định sẽ ăn gì?” “Bọn cháu có bánh quy với mấy thứ linh tinh rồi,” Malcolm đáp, sốt ruột muốn đi khỏi đó không kém gì Alice. “Để tôi sang nhà bên cạnh - xem liệu có thể kiếm được gì cho các cháu từ cửa hàng tạp hoá không - chắc ông ấy sẽ không để
tâm đâu. Cứ đợi đây một chút nhé. Các cháu biết không - lên tầng trên đi - ra khỏi dòng nước và làm ấm người một chút.” “Cảm ơn ông rất nhiều, nhưng bọn cháu phải đi tiếp đây, ” Alice nói. “Ôi không, cứ cho cô bé ở trong này để trú lạnh một lúc đã. Tất cả các cháu đều trông có vẻ cần được nghỉ ngơi đó.” “Thôi ạ, cảm ơn ông,” Malcolm nói. “Chúng cháu đi đây. Cảm ơn ông rất nhiều về những thứ này. Chúng cháu không muốn chờ đợi.” Ông chủ nhà cố nài thêm, nhưng cả bọn đã đi ra ngoài, trở lại xuồng, dù vẫn lạnh và ướt rượt, rồi đẩy thuyền đi thẳng. “Ông ta cố giữ chúng ta ở đó trong lúc bà vợ đi gọi cảnh sát, ” Alice khẽ nói, quan sát ông qua vai của Malcolm trong lúc cậu chèo chúng về phía dòng chảy chính. “Hoặc là hội TCK.” Ngay khi đã đi được đủ xa, Malcolm gỡ sợi dây thép gỉ sét ra rồi quấn cuộn băng dán chặt nhất có thể quanh mái chèo. Nó cho cảm giác khá hơn dây thép, nhưng lại không có nhiều lực, và sẽ không giữ được quá lâu, nhưng có lẽ chúng không còn phải đi xa nữa. Cậu nói điều đó với Alice. “Để xem sao, ” cô nói. Qua hàng thế kỉ, các kĩ sư và thợ xây của Hội đồng Thành phố London đã học được cách khiến cho dòng chảy hướng ra ngoài của sông và sự dâng lên vào trong của nước triều kết hợp với nhau khá trôi chảy. Xa tít trên thượng nguồn tới tận Teddington, mực nước dâng khi triều dồn vào và rút khi nó thoát ra, chỉ có các thuyền trưởng và những người chủ thuyền mui có tàu bè đầy ngập trên mặt nước và sử dụng các vũng tàu đậu của thành phố mới để ý nhiều đến chuyện đó. Nhưng cơn lũ đã làm thay đổi mọi thứ. Cứ hai lần một ngày thuỷ triều dâng lên tới cửa sông, trọng lượng khổng lồ của nước lũ dồn lực chống lại biển cả và cố gắng ép nó lùi vể, và cho tới khi thuỷ triều đổi hướng và lại chảy ra, hai khối nước mênh
mông cạnh tranh nhau sẽ sôi sục và sủi bọt trong một sự hỗn loạn điên cuồng. Mọi dạng đi lại bằng thuyền trừ trường hợp khẩn cấp nhất đã tạm thời phải ngừng lại. Vài chiếc thuyền mui và sà lan bám chặt lấy cột neo của mình, dù rất nhiều tàu bè khác đã bị giật đứt và bị cuốn lên hoặc xuống dòng sông để rồi đâm sầm vào các bờ kè, vào cầu tàu hay ke hay chân trụ của những cây cầu lớn, hoặc bị lật úp trong trận sóng cồn, hay bị cuốn phăng ra biển và mất tích. Nhiều cây cầu đã bị rung lắc dữ dội. Chỉ có cầu Tháp và cầu Westminster là vẫn hoàn toàn đứng vững. Blackfriars, Battersea, và Southwark đã sụp đổ, những mảnh vỡ của chúng làm gia tăng sự náo động dữ dội khi các dòng nước gặp nhau. Trong chiếc thuyền nhỏ gắn động cơ của mình, Bud Schlesinger lái đi trên vùng nước hoang tàn, rà soát sự hỗn loạn xung quanh bằng mắt, và cố gắng làm dịu những nỗi sợ của người chủ thuyền. “Có quá nhiều mảnh vỡ trong dòng nước!” Người đàn ông hét lên. “Nguy hiểm lắm! Nó có thể đập thủng vỏ thuyền!” “Chelsea ở đâu vậy?” Schlesinger gọi với lại từ mũi thuyền, nơi ông đang nhoài người ra, cố gắng giữ cho mưa không đập vào mắt. “Phải đi xa hơn nữa, ” ông chủ hét lên. “Chúng ta phải tấp vào bờ rồi neo lại thôi. Chuyện này thật điên rồ.” “Chưa được. Chelsea ở bờ bên trái hay bên phải?” Ông chủ hét lên đáp lại, “Trái,” kèm theo một tràng chửi thề. Chiếc thuyền liều lĩnh tiến tiếp. Bờ kè ở cả hai phía, theo như Schlesinger có thể quan sát, đang nằm dưới mực nước vài thước, ở bên phải là một công viên ngầm cỡ lớn trải rộng qua một hàng cây lớn trơ trụi, trong khi đó ở bên trái, một dãy những căn nhà bề thế và những toà nhà chung cư uy nghiêm đứng lặng lẽ và hiu quạnh. “Chậm lại một chút, ” Bud gọi, rồi tiến về phía buồng lái ở phía đuôi thuyền. “Ông có từng nghe nói tới Dinh thự Tháng
Mười không?” “Một toà nhà lớn màu trắng ở xa hơn dưới kia - Cái đồ ngớ ngẩn kia đang làm trò gì vậy?” Một con thuyền máy khoẻ có vỏ màu xanh hải quân và đỏ son đang lao tới gần, tiến sát vào mạn phải thuyền của họ. Một gã quét dọn boong đang cầm một cái sào móc nhoài người ra, cố gắng đánh trúng Schlesinger, nhưng ông liền ngả người về phía sau và để cho nó vụt qua trước mặt. Gã đàn ông suýt nữa thì mất thăng bằng, nhưng đã kịp bám vào lan can rồi lại vung cái sào móc lên thử một lần nữa. Schlesinger rút khẩu súng lục ra rồi bắn lên trên con thuyền, hoàn toàn nhờ may mắn mà nó đập trúng vào cái sào móc, đánh bật nó ra khỏi tay gã đàn ông. “Ông không thể làm thế được!” Ông chủ thuyền của Bud rền rĩ, dồn lực vặn van tiết lưu. Con thuyền lớn hơn nhào về phía trước, nhưng rồi lại gặp vật cản trong nước và phải lùi lại. Bud có thể thấy gã lái thuyền đang vật lộn với bánh lái, cố gắng khiến cho con thuyền quay về mạn phải, nhưng rõ ràng là có thứ gì đó đang cản chân vịt lại. Động cơ gầm lên, con thuyền mất phương hướng, và chỉ trong vài giây, nó đang chìm nghỉm một cách bất lực phía sau họ. “Chuyện quái quỷ gì...” Người lái thuyền của Bud gần như đang lảm nhảm vô nghĩa. “Ông có thấy màu sắc của nó không? Ông biết họ là ai chứ?” “TCK, ” Bud đáp. “Chúng ta phải đến được Dinh thự Tháng Mười trước họ.” “Điên rồ!” Con linh thú chó Keeshond của người đàn ông đang luồn cúi phía sau hai chân ông, run lên cầm cập. Ông chủ thuyền lắc đầu, nhưng vẫn đẩy van tiết lưu về phía trước một khấc. Bud gạt mưa ra khỏi mắt rồi nhìn quanh quất; trong màn bụi nước và cảnh hỗn độn, có rất nhiều hình thù trên mặt nước, và không thể đoán được cái nào trong số đó có thể là chiếc xuồng chở một thằng bé, một cô bé và một đứa trẻ sơ sinh. •§•
Xuôi dòng xuống khoảng nửa dặm, con thuyền của Ngài Nugent đâm sầm vào thềm bến đỗ dưới chân một bãi cỏ rộng mênh mông dẫn tới một toà nhà màu trắng theo phong cách cổ điển. Thềm đỗ đang chìm dưới mặt nước, hẳn nhiên rồi, và chỉ có vỏ thuyền là chạm tới nó, chẳng có chỗ nào để buộc thuyền lại cả; nhưng chỉ trong một thoáng Nugent đã trèo qua mép, đứng ngập tới thắt lưng trong dòng nước lạnh cóng rồi ì oạp lội, cố gắng giữ thăng bằng trong dòng chảy xiết, lên phía một thứ giống như một căn nhà thuyền đồ sộ nằm ở bên trái bãi cỏ, nơi mà ở phía trước, mở ra dòng sông đang nổi sóng, sáng lấp lánh trong ánh đèn mạch. Những âm thanh từ phía trong vọng ra rõ rệt kể cả trong bão tố và cơn cuồng nộ của dòng nước: đập bồm bộp, rầm rầm; rền rĩ như tiếng tua-bin quay. Nugent đã đến nơi, vẫn còn đang ngập đến đầu gối, và tóm lấy tay cầm của một cánh cửa trên phần nhìn về phía đất liền. Ông kéo cửa mở ra rồi bước vào trong. Dưới ánh sáng chói lọi của đèn pha, rõ ràng là được cung cấp năng lượng bởi chiếc máy phát đang chạy thình thịch ngay bên ngoài cánh cửa, nửa tá đàn ông đang làm việc trên một con thuyền dài và mảnh. Nugent không thể thấy được họ đang làm gì; ánh mắt của ông chỉ dồn vào người đàn ông đang cúi mình trên boong trước, sử dụng mỏ hàn. “Asriel!” Ông gọi, rồi vội vã chạy tới dọc theo sàn tàu đóng tạm thời về phía con thuyền. Ngài Asriel kéo mặt nạ lên quá mặt rồi đứng lên, vẻ kinh ngạc. “Nugent? Ông đấy à? Ông đang làm gì ở đây vậy?” “Con thuyền này đã sẵn sàng hạ thuỷ chưa?” “Rồi, nhưng mà...” “Nếu anh muốn cứu con gái mình thì đưa nó ra ngoài ngay bây giờ. Tôi sẽ đi cùng anh để giải thích. Đừng phí một giây nào cả.” Trong lúc La Belle Sauvage đang trôi ngày một nhanh về phía London, nước triều đã dâng lên gần đạt đỉnh, và những hậu quả
gây ra cho chiếc xuồng nhỏ khá nghiêm trọng. Va đập tứ phương tám hướng, bị quật bởi những đợt sóng dồn dập và những dòng chảy cắt nhau, Malcolm cố gắng hết sức để con thuyền giữ vững lộ trình, nhưng mỗi lần nó oằn mình trên dòng nước bão táp là cậu lại nghe thấy một tiếng cọt kẹt, như thể một phần bộ khung của nó đang bị rời ra vậy. Giá mà chúng có thể dừng lại... Nhưng chúng không dừng lại được. Chúng không thể dừng lại ở bất cứ đâu. Cứ như thể thuỷ triều vẫn là chưa đủ, một cơn gió bắt đầu bùng lên, tát nước vào những con sóng đầu bạc và đánh bạt bụi nước đi, còn bầu trời phía trên, xám xịt, lạnh lẽo và u ám suốt cả ngày, đã bị xâm chiếm bởi những đám mây giông to sụ đem theo mưa. Malcolm cứ liên tục quay hết hướng này đến hướng khác để tìm một nơi có thể lên bờ được, để có thể chăm sóc cho cái chỗ cọt kẹt kinh khủng mà lúc này cậu thậm chí còn có thể nghe thấy trên cả tiếng gió, cậu cũng có thể cảm thấy nó nữa, một chỗ cong vênh đến phát khiếp bắt đầu từ một sự lỏng lẻo về cấu trúc nhỏ xíu nhưng lại sớm to lên với mỗi đợt tròng trành, mỗi lần nâng lên hạ xuống sang một bên. “Mal...” Alice gọi. “Em biết rồi. Bám chắc vào.” Chúng đang bị cuốn đi về phía trước, qua một cung điện nguy nga đặt sâu tít trong vườn đến nỗi cậu gần như chẳng thể nhìn thấy nó qua màn mưa, qua các con phố với những căn nhà gạch lịch lãm, qua một nhà nguyện xinh đẹp, cứ khi nào cậu nghĩ rằng mình có thể thấy chỗ trú, cậu lại vục mái chèo xuống sâu và gắng sức xoay xuồng về phía đó, nhưng thật vô vọng, và giờ thì