hồi lâu không thốt nên lời. “Vậy tôi nói thẳng luôn. Kusaka là do cô giết phải không?” “Chị bảo sao?” Hai người trừng trừng nhìn nhau. “Cười chết mất! Tôi giết Kusaka bằng cách nào? Mà tôi có động cơ gì chứ?” “Cách thì tôi không biết. Nhưng động cơ chắc chắn là cô có.” “…” “Để tôi khỏi giành mất anh ấy.” Kumi tức thì phá lên cười, cười chói cả tai. Điều khiến người ta sởn gai ốc là, mắt cô hoàn toàn không cười, cứ trừng trừng nhìn Eiko. “Xin chị, chị đừng kể những chuyện hài hước như vậy nữa, được không? Lố bịch quá đi! Nếu
tôi thật sự phải giết Kusaka, thì lẽ ra nên đợi đến lúc chị quyến rũ được anh ta, và bản thân tôi cũng phải thích anh ta nữa kia. Không phải sao? Ha, thật nực cười! Tôi hoàn toàn chẳng để ý tới Kusaka, anh ta cũng không đam mê gì chị, tại sao tôi phải giết chứ? Người khăng khăng muốn giết anh ta là chị kìa. Đúng không, vì hình như anh ta có hứng thú với tôi hơn…” “Cô đừng ăn nói bậy bạ nữa! ” Tình cảnh khiến người ta sợ hãi nhất cuối cùng cũng bùng ra. “Loại đàn bà dơ bẩn như cô, đáng lẽ tôi không nên cho đặt chân vào cái nhà này. Cút ra cho tôi! Cút khỏi đây luôn đi!” “Nếu có thể thì tôi cũng muốn lắm. Chỉ cần cảnh sát cho phép là tôi lập tức rời đi. Người thì chết liên tục, lại có ả đàn bà rồ dại cả ngày rú rít điếc tai, tôi cũng chịu hết nổi rồi…” Hai người tiếp tục tranh cãi bằng những ngôn từ khó hiểu mà tôi không tài nào dùng con chữ ghi lại được. Chìm trong sợ hãi, chúng tôi nín thở co rúm mình. Cuối cùng cửa cũng đóng sầm, trong phòng chỉ còn Eiko, và không gian được trả về tĩnh mịch. Sau trận cãi cọ mất sức, Eiko đờ đẫn mất một lúc rồi mới tĩnh trí, đưa mắt nhìn quanh phòng. Do đó, dĩ nhiên, cô phát hiện ra, như phát hiện ra những kẻ nghèo hèn trà trộn vào phòng VIP, có hai khán giả đang thất kinh ngồi đây. Mặt cô tái nhợt đi. Cho dù cách rất xa, chúng tôi vẫn nhận ra môi cô run run. “Chào cô!” Kiyoshi lên tiếng. “Các anh vẫn ngồi ở đó suốt từ nãy đến giờ à?” Qua giọng điệu, có thể thấy cô lại mất bình tĩnh, nên mới đưa ra một câu hỏi hoàn toàn không cần thiết như thế. Lẽ nào cô cho rằng chúng tôi lén lút luồn vào phòng giữa chừng chiến tranh chăng? “Vì sao các anh ở đây mà không lên tiếng?” “À… chúng tôi sợ đến nỗi không dám lên tiếng.” Thật tình, câu trả lời của Kiyoshi ngu ngốc hết chỗ nói. Cũng may đang lúc thiếu sáng suốt, Eiko không bận tâm đến ý nghĩa câu nói nữa. “Các anh giữ im lặng, thật quá đáng. Các anh cứ im bặt ngồi đây mà nghe lỏm!” Kiyoshi quay sang nhìn tôi, hạ giọng bảo: “Xem ra không nên giữ im lặng, nên lên tiếng động viên cô ấy mới phải.” Tôi không hiểu nổi Kiyoshi, đành cất giọng khẩn khoản, “Chúng tôi không cố ý nghe đâu. Nhưng vì quá là lo lắng…” “… nên tiện thể nghe luôn.” Tôi đang nói dở, Kiyoshi đã xen ngang. “Tiện thể là thế nào?” Eiko nghiến răng nghiến lợi, vai run run. “Tóm lại, cái quỷ gì đã thúc
đẩy các anh nghe lỏm câu chuyện của chúng tôi?” Giọng cô vút lên. Nhưng tôi cho rằng lời giải thích của mình cũng không đến nỗi nào, căn cứ theo bầu không khí của mươi mười lăm phút trước, và theo những dấu hiệu cho thấy có thể dàn xếp sự việc mà bản năng quan sát của tôi nắm bắt được. Tôi chắc chắn rằng mình đủ sức dẹp yên tình hình. Ý tôi là, nếu ‘chỉ có mình tôi’. Chân thành khuyên các vị, đừng kết giao với một người bạn EQ thấp. Bằng cách bật ra một câu nói hoàn toàn vô nhân tính, thanh niên bên cạnh đã xóa bỏ sạch sẽ mọi nỗ lực của tôi lúc trước. “À… nỗi tò mò thúc đẩy. Tôi muốn xem xem cuối cùng thì bên nào thắng…” Đôi vai run run cứng lại ngay tắp lự, rồi một âm thanh bắn ra như thể được ép lên từ sâu trong bụng, “Anh thật vô giáo dục!” “À, tôi nghe những lời ấy nhiều đến mức thành quen rồi.” Kiyoshi vui vẻ đáp. “Quả thật là vô giáo dục, vì mãi cho đến lúc nãy, tôi vẫn tưởng thư viện là dùng để đọc sách cơ.” Tôi thụi vào mạng sườn Kiyoshi, cảnh cáo khẽ nhưng kiên quyết, bắt cậu phải im miệng. Dĩ nhiên là đã quá muộn, sự tình hiển nhiên đã phát triển đến mức không thể cứu vãn được nữa. Eiko không nói thêm câu nào, chỉ nhìn Kiyoshi bằng ánh mắt rắn đanh, rồi chậm rãi bước ra. Cô mở cửa, hơi ngoái lại nhìn chúng tôi, dường như muốn nghiền ngẫm một câu nguyền rủa thật cay độc, nhưng cuối cùng không nghĩ ra, bèn cứ thế khép cửa lại. Lần này đến lượt tôi gầm lên, “Hình như ở anh hoàn toàn không có cái gọi là tế nhị bình thường của con người.” “À, câu này, tôi cũng đã nghe đến cả ngàn lần.” “Chán chẳng buồn nói nữa. Cái Tết này bị anh làm cho bung bét hết cả rồi.” “Thi thoảng như vậy cũng lý thú mà.” “Thi thoảng? Tại sao tôi toàn rơi vào đúng cái lúc ‘thi thoảng’ của anh thế? Không thể nhớ được có lần nào đi với nhau mà tránh được chuyện vạ miệng. Mong anh đặt mình vào vị trí của tôi, nghĩ giùm cho tôi một chút, được không? Luôn là tôi cố sức thu vén mọi sự, còn anh thì cố tình đứng bên cười cợt chọc ngoáy.” “Tôi biết rồi, Kazumi, lần sau tôi sẽ chú ý.” “Lần sau? Ối, lần sau á? Nếu còn có lần sau, mong anh đừng làm như vậy nữa.” “Tại sao lại ‘nếu còn’?” “Vì tôi đang cân nhắc chuyện tuyệt giao với anh đây.” Tiếp đó là một khoảng im lặng gượng gạo. Rồi tôi lập tức nhớ ra, bây giờ không phải là lúc để tranh cãi mấy chuyện ngoài lề.
“Thôi tạm bỏ qua. Anh tính mình có phá được vụ án này không? Rốt cuộc định làm thế nào?” Kiyoshi uể oải, “Chuyện đó…” “Anh hãy lấy lại tinh thần đi. Tôi không muốn vì bẽ bàng mà nửa đêm nửa hôm phải cùng anh chạy trốn khỏi đây, tôi không muốn chết cóng. Nhưng bây giờ, ít nhất cũng đã xác định được một chuyện, đúng không? Có thể loại hai cô nàng đó khỏi vòng tình nghi.” Lúc này, tiếng cưa đục đã ngừng. “Tôi lại hiểu ra một chuyện khác cơ.” Kiyoshi nói. “Chuyện gì?” Tôi hỏi đầy hi vọng. “Chuyện, e rằng chúng ta phải tiếp tục trú chân trong căn phòng chứa đầy dụng cụ và thiếu tiện nghi ấy rồi.” “Đã nhận thức được như thế, xin anh biết điều cho một chút.”
Cảnh 6 Phòng sinh hoạt chung Tuy trong lòng thấp thỏm, tôi vẫn xoay xở ứng phó qua được bữa tối của ngày hôm đó. Khách khứa ở đây đã gần một tuần, sau ngần ấy chuyện, tất cả đều không giấu nổi vẻ hoang mang mệt mỏi. Cũng chẳng trách được, kẻ sát nhân hiển nhiên là ở ngay bên cạnh (hoặc là trà trộn vào với) họ, không khéo một ngày kia đến lượt chính họ bị con dao buộc dây đâm vào giữa ngực. Nhưng tới lúc này, những người khó giấu được vẻ tiều tụy nhất vẫn là các cảnh sát. Họ còn rũ rượi gấp mười lần dự đoán của Kiyoshi, ai nấy gục đầu suy sụp, trông rất đáng thương. Từ đầu đến cuối bữa ăn, họ không nói một lời. Bởi hễ mở miệng, e rằng cũng chẳng có câu nào mới hơn những câu đã nói không biết bao nhiêu lần suốt mấy ngày qua. Còn tôi, cứ thấp thỏm dè chừng suốt, chỉ sợ Kiyoshi lại hỏi các cảnh sát rằng, “Có phát hiện được cái ổ chuột nào không?” “Rốt cuộc là chuyện gì thế này?” Okuma bật ra câu thoại đó dễ đến lần thứ một trăm linh một. Không ai để ý. Còn Ozaki, trải qua một ngày lao lực, tay phải không nhấc lên nổi nữa, giờ mà cất tiếng chắc sẽ chỉ toàn oán than trách móc. “Buộc phải thừa nhận, chúng ta chưa tìm hiểu được gì hết.” Ushikoshi nói với âm điệu trầm thấp, “Vì sao con dao leo núi lại buộc sợi dây trắng dài hơn 1 mét? Vào đêm án mạng đầu tiên, vì sao có hai cây gậy cắm ngoài tuyết? Cả ba vụ giết người phòng kín, nhất là hai vụ về sau, không cách nào lý giải được. Mỗi lần có người chết, cấu tạo phòng kín lại càng trở nên khó hiểu hơn. Kín bưng như thế, đúng ra không ai đột nhập vào được mà giết người. Không thể! Vì thế chúng ta mới dỡ hết trần nhà, tường nhà và nền nhà lên, kết quả là tốn công vô ích. Hệ thống ống dẫn khí sưởi hoàn toàn bình thường và nguyên vẹn. Mất công mà tay trắng, không có thu hoạch gì. Đến nước này rồi, đành phải tin là do ma quỷ gây ra. Ngày nào tôi cũng đau đầu khi viết báo cáo cho Sở. Nếu ai có thể dùng lý lẽ bình thường mà giải thích, mà làm sáng tỏ vụ việc điên rồ này thì có bảo tôi cúi mình van vỉ tôi cũng sẽ bằng lòng… Nếu thật sự có người như thế.” “Nhưng không có.” Ozaki vừa nói, vừa xoa bóp cánh tay phải.
Tôi và Kiyoshi ngồi hầu chuyện Hamamoto Kozaburo. Chúng tôi mới đến làm khách một thời gian ngắn mà thấy ông như già đi cả chục tuổi, cũng ít nói hẳn, nhưng hễ nhắc đến âm nhạc hay nghệ thuật là ông lại khôi phục được vẻ sôi nổi vốn có. Chắc là do tôi vừa phản đối hoặc vì bản thân đã mất tự tin, Kiyoshi không châm biếm hay đùa cợt mấy cảnh sát nữa. Cũng coi như biết điều. Nhắc đến âm nhạc, Kiyoshi và Kozaburo tỏ ra tâm đầu ý hợp. Hai người thảo luận gần một tiếng đồng hồ về sự tự cao và táo bạo của Richard Wagner. “Ông này đi đầu trong việc dùng âm nhạc để phá vỡ bầu không khí ‘hài hòa’ hình thành từ thời Trung cổ và tiếp tục kéo dài sau đó.” Kiyoshi nhận xét. “Có lý, bởi thế ở Anh, âm nhạc của ông ta được xem là tiên phong hồi bấy giờ, giống như âm nhạc hiện đại thời nay vậy.” Kozaburo tán thành. “Vâng. Phương pháp của Wagner còn triệt để hơn cả phương pháp mà Lola Montez từng áp dụng với Ludwig I* nữa. Lợi dụng sự thuần khiết và nhiệt thành của Ludwig II, Wagner đã tìm cách tiếp cận vương quyền. Có lẽ là tại đã nhận ra rằng bản chất của chế độ quân chủ thời ấy chẳng khác gì một sân khấu lớn. Nếu không thì cũng khó mà giải thích được các hành vi thăm dò táo bạo của ông ta.” “Có thể lắm, vì một mặt cố gắng tìm kiếm sự trợ giúp, mặt khác ông ta vẫn khẳng khái từ chối các khoản tiền của nhà vua. Dù phải thừa nhận là nếu không có Ludwig II chống lưng, thì Wagner không thể tạo ra những kiệt tác như Chiếc nhẫn của người Nibelung* vì thời kì sau này quả thật ông ta đã thành chúa chổm. Lưu vong khắp các ngóc ngách châu Âu mà thiếu sự bảo trợ của Ludwig II, chắc chắn ông ta đã lẳng lặng mục rữa ở một thị trấn nhỏ nhoi hẻo lánh nào đó rồi.” “Quả là có khả năng này, đấy là chưa kể đến các bản tổng phổ.” “Sự hài hòa mà cậu vừa nói…” “Tôi cho rằng các thành phố châu Âu, trước khi Ludwig II và Wagner xuất hiện, đã đạt đến một mức độ hài hòa nhất định. Sự hài hòa đó thể hiện ngay từ các loại vật liệu kiến trúc, kết hợp cân bằng đá tảng, thủy tinh và gỗ trong xây dựng nhà cửa… ” “Ừm, có lý.” “Khái niệm thiết kế một thành phố lý tưởng thời bấy giờ chính là bài trí theo phong cách sân khấu kịch. Thành phố là một sân khấu khổng lồ. Những người xuất hiện trên đó, những cuộc sống theo nhau diễu qua đó, đều có thể xếp vào hình thức diễn xuất.” “Thế, Ludwig II trẻ trung nhiệt huyết ngày ấy đã sắm vai gì khi mở lòng đón nhận một kẻ khinh bạc như Wagner? Một Mạnh Thường Quân theo phong thái nhà Bourbon chăng?”
“Vâng, đây có thể là khuynh hướng phổ biến của người Bavaria thời đó. Vì không chỉ Ludwig II, mà Ludwig I cũng bắt chước Paris, xây dựng một Khải Hoàn Môn vô tích sự ở Munich còn gì. Có điều, đối tượng khiến tôi thấy hứng thú nhất bây giờ lại là ông cơ, ông Hamamoto.” “Tôi ư?” “Trông qua thì ông không mộng mơ như Ludwig II, Lưu Băng Quán cũng không phải là cung điện Neuschwanstein. Người lý tính như ông đây tự dưng tìm lên cực Bắc đất nước xây dựng ngôi nhà đặc biệt thế này, chắc chắn phải có lý do.” “Cậu đánh giá tôi hơi cao quá chăng? Nếu không thì là đánh giá người Nhật nói chung hơi cao quá chăng? Ở Tokyo có nhiều biệt thự nghỉ dưỡng còn quái gở hơn Lưu Băng Quán mà.” “Nhà này dùng để nghỉ dưỡng à?” “Đúng.” “Thế mà tôi lại không nhìn ra.” “Giống như tôi, nhìn thế nào cũng không thể cho rằng cậu chỉ là một gã phớt đời, hành động vô mục đích.” Hai người im lặng một lúc. “Cậu Mitarai, cậu thật là người khó hiểu.” Kozaburo nói. “Tôi không sao đoán được suy nghĩ của cậu.” “Vậy ạ? Chắc là tôi thuộc dạng khó lý giải hơn mấy viên chức đằng kia.” “Theo cậu, các cảnh sát đã nắm được manh mối gì?” “Đầu óc họ vẫn không hề thay đổi so với trước lúc đến đây. Họ giống như phần trang trí mặt tiền của một công trình theo kiến trúc Gothic, dù có phần trang trí ấy hay không, đều không ảnh hưởng đến độ bền vững của công trình.” “Còn cậu?” “Ý ông là gì?” “Chân tướng của sự việc này. Cậu hiểu rồi chứ? Cậu biết thủ phạm là ai chưa?” “Nếu chỉ luận về thủ phạm, thì thoáng nhìn là biết.” “Ố? Là ai?” “Tôi nói rồi mà nhỉ. Chính là Golem.” “Nhưng tôi không nghĩ là cậu nghiêm túc.” “Ông mà cũng nói vậy à? Nhìn từ góc độ nào, đây vẫn là một tội ác hết sức công phu. Ván cờ đấu trí tuy đã bắt đầu rồi, nhưng hét ‘chiếu tướng’ sớm quá, chẳng phải sẽ rất thất lễ với bậc thầy nghệ thuật này hay sao?”
GIẢI LAO
Bắt đầu từ tối ngày 1 tháng Giêng, sau khi phong thư đáng sợ nọ xuất hiện, Kozaburo không còn ngủ một mình trên tháp nữa mà xuống phòng 12, ngủ dưới sự bảo vệ của Okuma và Anan. Để đi đến quyết định này thì cũng có một số tranh cãi và thống nhất, nhưng viết tỉ mỉ ra chỉ làm nhiễu thêm các ấn tượng của bạn đọc, vì thế tôi xin phép lược bỏ. Hôm sau là ngày mùng 2, không xảy ra bất cứ chuyện gì có tính chất tội ác. Các cảnh sát lại mất một ngày cố sức khôi phục nguyên trạng những chỗ đã đục hỏng bữa trước. (Nhưng thật ra cũng không làm sao đưa tất cả trở về như cũ được). Kiyoshi không trao đổi một lời nào với các cảnh sát, chỉ có Ushikoshi đến hỏi ý kiến của tôi. Vì rõ ràng là không trông cậy gì vào Kiyoshi được nữa, tôi đành tự mình nghiền ngẫm, hệ thống lại toàn bộ sự việc thành bốn vấn đề. Thứ nhất, hai tay Ueda Kazuya giơ cao thành hình chữ V, hông vặn cong, tư thế rất lạ lùng. Thứ hai, con dao trên lưng Kikuoka Eikichi cắm ở ‘bên phải’ chứ không phải ‘bên trái’ (phía trái tim). Thứ ba, Kazuya và Eikichi chết cách nhau chưa đến một ngày, tạo nên án mạng liên hoàn. Xét cho kĩ, tình huống rất quái lạ. Hung thủ chắc chắn dư dả thời gian, nhưng lại gây cho người ta ấn tượng là phải hành động gấp gáp bất chấp nguy hiểm. Giết Kazuya xong, nếu tạm hoãn một thời gian, cảnh sát ít nhiều cũng sẽ lơ là hơn, bấy giờ thừa cơ hành động mới là cách làm hợp lý. Sau án mạng đầu tiên, bốn cảnh sát đều nghỉ lại qua đêm, nếu để hai ba ngày nữa thì Anan nhất định sẽ rời khỏi đây. Vì sao hung thủ không chịu khó đợi thêm? Thời điểm sau cái chết của Kazuya là thời điểm cực kĩ mẫn cảm, tinh thần cảnh giác đề phòng đang ở mức cao. Suy ra, có lý do bắt buộc hung thủ phải mạo hiểm gây án? Lý do đó là gì? Đang vội chăng? Nhưng sau khi Eikichi bị giết, chẳng có ai tất bật rời khỏi Lưu Băng Quán cả. Thứ tư, nếu nhất định phải có vấn đề thứ tư, thì nằm ở chính ngôi nhà này. Do cầu thang chia làm hai cánh Đông-Tây, lại cấu tạo đặc biệt, về lý mà nói, từ phòng 1, 2 muốn xuống phòng 13, 14 thì ‘nhất định phải băng qua phòng sinh hoạt chung’, nhờ điểm này mà có những người đã mấy lần được rửa sạch hiềm nghi. Nhưng trên thực tế có đúng như thế không? Ở đây liệu có điểm mù nào không? Tôi trình bày với Ushikoshi đủ bốn vấn đề như vậy, và giấu đi sự thật rằng tôi còn tính đến những tình huống hoang đường hơn, xa xôi hơn. Án mạng của phòng 14, và nhất là phòng 13, về lý mà nói là tuyệt đối không thực hiện được, không ai xâm nhập vào đó mà giết người được. Vì thế, liệu có khả năng nào là qua lỗ thông hơi trên tường, hung thủ đã len lén phát một hình ảnh hoặc một âm thanh rùng rợn đến nỗi nạn nhân hoảng loạn phải tự cầm dao đâm mình? Song, khả năng này dĩ nhiên không tồn tại. Cảnh sát đã dỡ cả tường cả trần cả đường ống ra
lục lạo kĩ càng, không tìm thấy máy chiếu hay máy phát thanh nào, mà ngay cả các thiết bị điện hoặc máy móc tương tự cũng không có. Mùng 3 tháng Giêng, những người làm công ăn lương bắt đầu đi làm trở lại. Buổi sáng có năm sáu người công nhân đến, xây đắp lại các phần tường và trần mà cảnh sát đã bới khoét tung tóe. Cửa phòng 10 được sửa từ trước, nhưng phòng 13 và 14 đến lúc này mới được khôi phục nguyên trạng. Bởi vậy từ ngày mùng 3, cuối cùng tôi và Kiyoshi cũng được phép dọn đến phòng nghỉ đúng nghĩa, là phòng 13. Tiếp đó, vào tầm trưa cùng ngày, một viên cảnh sát đem gửi trả nguyên vẹn cái đầu của Golem, Kiyoshi cảm ơn rồi mang lên lắp vào thân thể ở phòng 3, lại đội cho nó cái mũ. Nhóm Ushikoshi chăm chú nghe viên cảnh sát nọ báo cáo kết quả khám nghiệm các vật chứng, nhưng nội dung chẳng có gì khởi sắc. Dao leo núi, thừng, dây, toàn là những món đồ mà ra bất cứ hiệu tạp hóa nào cũng có thể mua được, kết quả thế này là tất nhiên thôi. Chiều đến, thời tiết xấu đi, tuyết bay tơi bời ngoài cửa sổ. Đến 2 giờ chiều, bên trong Lưu Băng Quán đã tối om như lúc nhá nhem, xem ra đêm nay sẽ có bão tuyết. Vở kịch giết người diễn ra ở ngôi nhà quái dị nơi cực Bắc sắp bước lên một cao trào khó tưởng tượng. Trước khi sang cao trào, có hai sự việc tôi thấy cần ghi lại. Một là vào lúc nhập nhoạng, Aikura Kumi khăng khăng nói trên trần phòng mình vọng xuống tiếng thở yếu ớt. Kanai Hatsue thì rơi vào hoảng loạn, sau khi khẳng định chính mắt chị ta trông thấy người chết đứng trong tuyết bay tơi bời. Có thể thấy, nỗi sợ hãi của khách khứa từ mơ hồ đã bắt đầu trở nên có hình thù cụ thể. Sự việc thứ hai lý tính hơn. Vào bữa tối ngày mùng 3 tháng Giêng, khách khứa ngồi quanh bàn không còn ai thấy ngon miệng nữa, mặt mày thì trắng bệch cả. Các bà các cô đặt dao dĩa trước mặt, lắng nghe tiếng gió tuyết rít gào không ngơi ngoài cửa sổ. Eiko từ từ đặt tay trái lên tay phải của Masaki đang ngồi bên cạnh, nói nhỏ, “Đáng sợ quá!” Masaki bèn phủ hơi ấm của bàn tay trái mình lên trên bàn tay trái ấy. Mọi người trong nhà đều có mặt đầy đủ bên bàn ăn, kể cả bốn cảnh sát. Đúng lúc đó, từ cầu thang phòng sinh hoạt có khói trắng phơ phất bay xuống. Người đầu tiên phát hiện ra là Kiyoshi. “Ơ, cháy kìa!” Cậu nói bằng âm điệu bình thản như kêu “Ơ, cảnh sát kìa!” ở đồn cảnh sát vậy. Các viên chức an ninh thì đứng bật dậy, ném dao dĩa xuống lao ngay về phía cầu thang. Sợ phòng 3 xảy ra bất trắc, Kozaburo cũng lật đật chạy theo, mặt tái nhợt. Kết luận là, vụ cháy đã bị dập ngay từ khi mới manh nha, không có thiệt hại nào đáng kể.
Không hiểu vì sao lửa lại bốc lên từ giường Eiko ở phòng 2. Trông tình trạng thì dường như ai đó đã hắt dầu đèn vào, làm chăn đệm bén lửa. Dĩ nhiên mọi người đều không đoán ra thủ phạm, lại càng không đoán ra động cơ của một đám cháy vô nghĩa như vậy. Chắc tôi không cần phải nhắc lại, bấy giờ tại bàn ăn của phòng sinh hoạt: Mọi người trong nhà đều có mặt đầy đủ. Hiện tại ở Lưu Băng Quán, ngoài những khuôn mặt quen thuộc với nhau còn có ít nhất một kẻ lai lịch không rõ ràng, cũng tức là tên sát nhân quái dị chưa lộ diện, đang ẩn náu ở chỗ nào đó, về điểm này thì mọi người đều nhất trí, dù các cảnh sát đã lục lạo, đã lật tung các nơi lên mấy lần rồi. Tối nay phòng 2 không khóa, cửa sổ ở chiếu nghỉ cầu thang cũng không khóa, vì thế vụ cháy kì lạ này hoàn toàn không phải là không có điều kiện để thực hiện. Dĩ nhiên tạm thời đừng suy xét đến việc ‘Ai là thủ phạm’ và ‘Mục đích là gì’ vội. Bên ngoài, bão tuyết thi thoảng gây ra những âm thanh ầm ĩ như thể ai đó vung tay đấm vào cửa sổ, khiến cho cả tá người rệu rã trong nhà co rúm mình lại. Mọi chi tiết chuẩn bị cho cuộc giải lao giữa chừng thế là đã đầy đủ, đêm sau cùng sắp đến. Trước khi kéo màn