CHƯƠNG 3
Thế giới đã thay đổi rất nhiều kể từ hồi tôi còn trẻ. Từng có thời mà nếu muốn bảo vệ và giúp đỡ một cậu bé, tôi chỉ cần đến gõ cửa nhà và nói chuyện với bố nó về chuyện đó. Ấy vậy mà ngày nay, thế giới đã trở nên điên rồ đến mức mà tôi có thể bị bỏ tù vì một trò như thế. Nhưng tôi đang có trong tay danh sách điều ước của Jason, vậy nên tôi phải tìm đứa trẻ ấy, bằng mọi giá.
Tôi bắt xe buýt về nhà và suy nghĩ về chuyện đó một lúc. Tính đến mười một giờ sáng, tôi đã thức suốt bảy tiếng đồng hồ, bụng tôi đói cồn cào, vì vậy tôi tự thưởng cho mình bữa trưa sinh nhật của đầu bếp Boyardee được hâm nóng bằng lò. Tất nhiên, đó là tất cả những gì tôi vẫn ăn. Chỉ khác ở chỗ đó là
ravioli
hay
spaghetti
. Hôm nay, tôi ăn
ravioli
. Nếu tôi hầm nóng vừa đủ trên bếp, món ăn sẽ ấm nóng và nước sốt màu đỏ sẽ sôi lăn tăn, nhưng không quá nóng đến mức bị bỏng. Với một số người, phần ăn trông có vẻ không nhiều nhặn, nhưng tôi chưa bao giờ là một ông già đòi hỏi này kia. Tôi đã lái chiếc xe bán tải do Mỹ sản xuất trong suốt hai mươi lăm năm và sử dụng cùng một chiếc găng tay bóng chày Rawlings trong suốt mười lăm năm sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp. Và lần cuối cùng tôi mua một bộ quần áo mới là vào năm 1989 – nếu không tính đến việc thi thoảng tôi có mua vài đôi quần lót mới. Tất nhiên, tại tác dụng phụ của thuốc mà tôi “bĩnh” ra giường thường xuyên đến nỗi tôi lại sắp phải bắt xe buýt mang đồ đến cửa hàng giặt quần áo rồi đây. Hoặc tôi sẽ nhờ Chance chở tới đó.
Chuông cửa reo, tôi lảo đảo đi ra và nhìn qua lỗ nhòm. Đúng là vừa nhắc Tào Tháo, Tào Tháo đến liền, một bên mắt xanh da trời nhạt của Chance đang nhìn tôi từ bên ngoài cánh cửa có độ dày chỉ một inch. Nhìn nó khiến tôi nhớ đến một kiểu chung thủy khác của mình – tôi đã kết hôn và sống với một người phụ nữ trong suốt tám mươi năm, và chưa bao giờ có ý định tìm một người khác. Dù sao thì cũng chẳng có gì khó giải quyết đến mức sự chính trực không thể làm gì được.
“Cháu chào ông.” Chance nói khi cửa mở. “Ông khỏe chứ ạ? Cháu vào nhà nhé.”
Tôi không phải là kiểu người thích những lần thăm hỏi bất ngờ. Tôi cho rằng mọi người nên tôn trọng quyền riêng tư của người khác. Nhưng Chance cứ khăng khăng rằng nó làm thế là vì tôi, vì tôi cần ai đó thỉnh thoảng kiểm tra tình hình. Cho đến bây giờ, tôi vẫn luôn nghĩ rằng nếu chẳng may tôi đột ngột ngã chết thì chuyện đó cũng chẳng can hệ gì đến ai, vậy thì tôi cần có người thường xuyên đến kiểm tra tình hình để làm gì cơ chứ? Tất nhiên, có lẽ tôi sẽ thấy biết ơn một chút nếu nghĩ rằng Chance ghé thăm vì thực sự quan tâm tới tôi.
“Còn chưa đến giờ trưa. Sao cháu không ở chỗ làm?”
Nó làm cử chỉ khoát tay và đi vào phòng khách trước khi tôi kịp bảo nó nên về nhà với người vợ thứ ba của mình, để tôi được yên. Nó kẹp hộp gì đó dưới nách, không lạ lắm. Nhìn thì có vẻ chu đáo ần cần, nhưng tôi biết tỏng. Kể từ khi nó mang đến cho tôi một thùng quần áo sau khi bố vợ thứ hai của nó qua đời. Tôi đã mang tất cả chúng, trừ hai chiếc sơ mi, đến
Goodwill
. Chỉ có Chúa mới biết tại sao nó nghĩ tôi muốn mặc những chiếc áo phông ghi mấy dòng chữ như
Disney World’s Magic Kingdom
(tạm dịch:
Vương quốc phép thuật
của Disney World) hay
Just Do It
(tạm dịch:
Cứ làm đi
). Một trong số chúng thậm chí còn thiếu tay áo.
Nó cởi áo vest và nới lỏng cà vạt, như định bụng sẽ ở lại đây một lúc lâu. Rồi nó vuốt ngược mái tóc xoăn nâu, khoe đầu mình đầy tóc chắc khỏe, trong khi tôi có nhiều những cọng tóc lơ thơ mọc ra từ mang tai hơn cả trên đỉnh đầu. Tôi muốn tiếp tục đứng để nó tự hiểu rằng tôi mong cuộc ghé chơi này sớm kết thúc, nhưng chiếc đầu gối đau nhức bắt tôi phải ngồi xuống ghế xô pha cho bằng được. Chance ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện tôi, đặt chiếc hộp kia xuống dưới chân. Nhìn chúng tôi bây giờ chẳng khác nào một gia đình hạnh phúc kiểu mẫu.
“Mùi gì khét vậy?” Nó nói.
Tôi liếc nhìn lò sưởi, nhưng đã gần mười năm nay tôi không thể cúi người và đốt cái lò ấy. Khói bốc ra từ bếp cùng lúc với tiếng còi báo động cháy kêu inh ỏi.
“Mẹ kiếp.” Tôi nói, bởi vì Chance không còn bé nữa và nó thì thậm chí còn nói xằng bậy hơn thế ngay trước mặt tôi. Tôi chưa quyết định được rằng liệu tôi có cần thêm từ đó vào danh sách xưng tội cho lần tới gặp Cha James không.
“Ông cứ ngồi đấy, để cháu.”
Tôi thề là mình có cảm thấy ghen tị với cách Chance dễ dàng chạy vào bếp. Tôi thậm chí chưa hề dịch chuyển khỏi chỗ ngồi ban đầu, dù đã cố. Tôi nghe thấy vài câu chửi thề, sau đó là tiếng vòi nước chảy và tiếng rít của nước nóng trên bếp. Chance cạo mạnh nồi, tiễn món Chef Boyardee của tôi xuống cống. Ít nhất nó cũng nên cố cứu vớt bữa trưa của tôi và giữ lại một phần.
“Ông thấy chưa?” Chance vừa nói vừa bước vào phòng, lau tay vào khăn lau chén. “Đây chính là lý do chúng cháu cần đưa ông đến viện dưỡng lão. Ông ở đây một mình không an toàn đâu. Cháu không hiểu sao ông cứ muốn ở lại. Hãy nhìn nơi này xem.”
Tôi nuốt tất cả những câu từ sỗ sàng đó xuống cổ họng, đội ơn Thánh Joseph.
“Cháu không hiểu đâu.”
“Ông thử nói xem nào.”
Dẫu nói vậy nhưng tông giọng của nó lại ẩn ý một điều khác hoàn toàn. Chỉ có thể là sự coi thường. Vì vậy mà tôi chẳng nói gì cả. Tôi không nói với nó rằng đó là bởi dù Jenny đã ra đi nhưng ký ức về bà ấy hãy còn lưu lại nơi đây, vẫn còn vấn vương trong mọi ngóc ngách của ngôi nhà này. Rằng nếu ngôi nhà không còn nữa, thì quá khứ của bà ấy, lịch sử của bà ấy, cùng tất cả những kỷ niệm chúng tôi có với nhau cũng sẽ biến mất. Tất thảy dấu tích về bà ấy sẽ đồng loạt bay biến như thể bà ấy chưa từng tồn tại, tất nhiên là ngoại trừ trong tâm trí của tôi, nhưng đáng buồn thay, trí nhớ của tôi giờ đây cũng chẳng còn được minh mẫn như những ngày trước. Chance nghiêng đầu sang một bên, như thể nó biết tôi đang nghĩ gì.
“Dù ông cứ khăng khăng ở đây thì bà cũng không quay về đâu.”
“Ừm, chúc mừng sinh nhật cháu nữa nhé. Hay cháu quên rồi?”
Chance tháo cà vạt. “Đương nhiên là không rồi. Đấy là lý do tại sao cháu ở đây.’’ Nhưng nó không nhìn tôi khi nói, thế là đủ hiểu.
“Cháu thấy chuyện này thế nào? Hôm nay là sinh nhật lần thứ một trăm của ta và người duy nhất còn sống trong dòng họ thậm chí còn chẳng nhớ chuyện đó. Và lý do duy nhất khiến cháu ghé qua đây chỉ là để bảo ta hãy rời khỏi ngôi nhà của mình.”
“Chuyện không phải như ông nghĩ đâu. Mà dù có đúng thì ý ông muốn nói là cháu ích kỉ sao? Cháu đã để nghị trả tiền phí dưỡng lão, ông nhớ không? Những ngôi nhà đó đâu miễn phí, ông biết mà. Cháu sẽ phải sử dụng chính số tiền mà cháu đã vất vả kiếm được.”
“Cứ giữ lấy đống tiền quý giá ấy của cháu đi. Còn ta sẽ giữ ngồi nhà này.”
Lại là Chance và số tiền của nó. Hơi tí là nó lại nói về việc bản thân phải làm lụng vất vả ra sao. Làm như mình nó có nhiều tiền vậy. Nhưng tôi thấy cái cách nó nhìn những món đồ bóng chày cũ của tôi – như thể chúng chỉ là món đồ đáng đem bán ở cửa hàng cầm đồ gần nhất.
Chance nhìn một vòng quanh phòng, săm soi như cách nó thường làm mỗi lần. Nó dừng mắt trên bức ảnh đã phai màu của Jenny trên kệ, và tôi tự hỏi liệu bức ảnh đó có khiến nó nghĩ về người vợ đầu tiên, người mà nó đã bỏ để đi theo một cô gái trẻ đẹp, hay còn gọi là người vợ thứ hai, tức người mà nó lại bỏ để đi theo người tình hiện tại, đẹp hơn và trẻ trung hơn hay không. Rồi nó chuyển ánh mắt sang đôi găng tay bóng chày yêu quý của tôi – thứ mà tôi đã dùng suốt sự nghiệp của mình. Nó đeo vào, nắm tay lại và đấm vào lòng bàn tay như thể là đồ của mình.
“Tiếc là thời ông chơi bóng không có quyền tự do chuyển nhượng.” Nó nói chuyện này lần thứ hai mươi. “Cầu thủ ngày nay kiếm được nhiều tiền lắm.”
“Ta chưa từng cần phải kiếm một khoản tiền lớn. Ta chơi bóng chày chỉ đơn giản là vì ta yêu nó. Vì bà Jenny của cháu yêu nó. Cũng là vì các con trai của ta – bố cháu – yêu nó. Chừng đó là đủ.”
“Ừ thì…” Chance nói, không cố gắng che đậy sự chán chường. “Họ đều đã mất, và ngày nay chỉ có yêu thích thôi thì không đủ.”
Tôi biết nó nghĩ gì khi nó nhìn vào chiếc găng tay của tôi, vỗ nhẹ cho găng mở hé và gập cong lại như để làm nó dễ dùng hơn. Người thân duy nhất của tôi còn sống, và nó đang nhìn vào một trong những kho báu quý giá của đời tôi, có lẽ đang tự hỏi bán nó sẽ được bao nhiêu sau khi tôi qua đời. Tôi cắn lưỡi mạnh đến mức bắt đầu nếm thấy vị tanh tanh. Tất nhiên, làm vậy chẳng tốn chút sức nào. Khi giờ đây tôi trong cơ thể già cỗi với lớp da nhìn chẳng khác gì vải da nhưng lại dễ rách như giấy ướt. Dường như Chance đã bỏ quên tôi cho đến khi ánh mắt lơ đễnh của nó dừng ở chiếc hộp dưới chân.
“À, đúng rồi, đã nói là cháu không quên sinh nhật ông mà, thấy không? Cháu mang đến cho ông một món quà đây này.”
Nó nhảy phắt lên ghế xô pha và ngồi chồm hổm nhưng tôi cố không cằn nhằn. Nó không biết hình ảnh đấy của nó khiến tôi nhớ về những tháng ngày trai trẻ của mình như thế nào đâu. Chance đưa chiếc hộp về phía tôi, và khi tôi không buồn động tay để cầm lấy, nó để chiếc hộp lên cái ghế ở bên cạnh tôi.
“Ông mở đi.”
Tôi nhăn mặt nhìn cái hộp, nhìn vào những mảng bìa cứng bị xé rách và những miếng băng dính lỏng lẻo. Có ba cái tên và địa chỉ khác nhau được viết bên hông hộp, mỗi cái đều bị gạch bằng bút dạ quang, dòng nào cũng viết ẩu. Nhưng nếu nghe Chance mô tả nó, bạn sẽ nghĩ đến một món quà được gói bằng giấy chúc mừng sinh nhật và có một chiếc nơ nhỏ nhắn xinh xắn được gắn ở trên đỉnh.
Hóa ra, tôi thậm chí không cần phải mở. Tôi vừa nhấc lên từ ghế thì cái hộp đã rời ra. Một thiết bị điện tử cồng kềnh rơi ra từ đáy hộp, nghiêng sang một bên, suýt rơi khỏi tấm nệm. Thậm chí nó còn không được bọc hẳn hoi trong một cái túi.
“Cái gì đây?”
“Máy gửi thư điện tử, ông ạ. Người già thường dùng nó thay cho máy tính vì nó đơn giản hơn – Ờ, cháu đoán nó là máy tính, về mặt kỹ thuật, nhưng nó chỉ để trao đổi thư điện tử thôi, vậy nên nó mới đơn giản. Cháu nghĩ ông có thể dùng nó để gửi thư… cho bất kỳ ai. Để theo kịp thời đại, ông hiểu ý cháu mà đúng không?”
Tôi không quan tâm đến việc theo kịp thời đại. Chance biết điều đó, giống như nó biết tôi không hề biết cái máy rắc rối này dùng để làm gì, nhưng tôi thì biết chắc rằng mình không thích giọng điệu của nó. Không phải lúc nào tôi cũng hiểu ý nó nói, nhưng tôi đủ thông minh để biết nó đang chế giễu tôi.
“Ta không cần.” Tôi nói.
Chance ngạc nhiên, trong khoảnh khắc điều này khiến tôi tự hỏi liệu cháu tôi có thực sự mang nó đến cho tôi với ý nghĩa là một món quà sinh nhật hay không. Mắt nó mở to gấp đôi, càng nổi bật bởi mái tóc đen và cái cằm.
“Tốt thôi, ông nội. Ông muốn làm gì với nó thì làm. Chỉ là cháu đang cần bỏ nó đi. Janine và cháu đang dọn dẹp không gian để đồ. Cháu nghĩ có thể ông sẽ thích nó.”
Và đây rồi. Sự thật.
“Nếu không còn điều gì muốn nói thì cháu có thể đi về.”
“Bây giờ ông thực sự là một người già rồi đấy. Ngày trước ông đâu như thế này.”
Chúng tôi nhìn nhau chằm chằm trong vài giây và tôi có thể thấy sự chán ghét của nó biến thành nỗi thất vọng. Về phần nó, tôi thực sự tin rằng nó chỉ đơn giản là không thể hiểu được tôi. Và tin tôi đi, đôi bên đều vậy. Điều này chưa từng xảy ra với các con trai của tôi.
Mà chắc là cũng có. Nhưng Jenny và tôi đều cho rằng việc dạy con trai cách sống độc lập rất quan trọng. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã vẽ lên một bức tranh sinh động về cách mọi thứ có thể trở nên tồi tệ như thế nào. Vì vậy, chúng tôi đã dạy các con phải làm việc chăm chỉ, học hành đến nơi đến chốn, tự xây dựng cuộc sống cho riêng mình và không phụ thuộc vào bất kỳ ai – kể cả bố mẹ. Giờ đây, tôi không thể không tự hỏi rằng phải chăng tôi nên dành nhiều thời gian hơn để nói với chúng rằng tôi yêu chúng nhiều nhường nào. Nếu tôi làm như vậy, có lẽ chúng đã không trở thành bậc cha mẹ xa cách với con cái.
Tôi nên nói với Chance rằng tôi yêu nó ngay bây giờ. Để chuộc lại những thiếu sót của tôi với các con. Nhưng trước khi tôi kịp lên tiếng, Chance giơ tay lên, như thể tôi không đáng để nó phải đầu hàng hoàn toàn.
“Được thôi, ông nội. Nếu đó là điều ông muốn, cháu sẽ đi. Nhưng cái máy gửi thư… là để khuyên ông nên chuyển ra khỏi căn nhà lụp xụp này… Ông biết là cháu chỉ đang cố gắng làm điều tốt nhất cho ông mà.”
Nó cầm cà vạt và áo khoác lên, khựng lại ở cửa. “Nhưng ông à, ông thực sự làm cháu buồn đấy.”
Dường như nó đang suy nghĩ về việc nói thêm gì đó. Tôi cũng vậy. Điều gì đó đầy thương yêu và an ủi. Một điều gì đó có thể kéo gần khoảng cách giữa chúng tôi hơn. Nhưng những suy nghĩ trong đầu tôi không thể truyền đến miệng, và trước khi tôi kịp nhận ra thì khoảnh khắc đó đã trôi qua. Chance lắc đầu, vắt áo khoác qua vai và đi xuống lối đi, bỏ lại những mối bận tâm trong lòng.
Tôi mang cái máy gửi thư đáng ghét vào bếp, mở nắp thùng rác và thả vào bên trong một cái “phịch”.