Người Điều Khiển Mê Cung

hồi chuông vô

hồi chuông vô

hồi chuông vô vọng. Không thể nào. Dù đang buổi tối nhưng theo chỉ thị mới thì đây là giờ làm việc. “A-lô.” Cuối cùng một giọng nam trả lời. “A-lô, xin lỗi vì đã làm phiền anh… Tôi là đặc vụ Bauer. Tôi có thể nói chuyện với sếp của anh được không?” Người đàn ông ở đầu dây bên kia không đáp. Genko lập tức có một dự cảm chẳng lành. Im lặng bị cắt ngang bởi một tiếng sủa. “Yên nào, Hitchcock.” Đầu dây bên kia lên tiếng. Ngay khi nghe thấy tên con chó, Genko nhận ra mình đã đi một nước cờ sai lầm. Người đàn ông trong điện thoại chính là người đã nặng lời với Delacroix ở căn cứ đầm lầy. Hóa ra người mặc com-lê xanh biển đeo cà￾vạt chính là một cảnh sát. Và anh ta biết Bauer. “Cấp trên của tôi hiện không có ở đây, nhưng tôi có thể giúp anh, nếu anh muốn.” Anh ta nói. “Tôi là đặc vụ Simon Berish.” Genko biết ông đối mặt với một rủi ro lớn khi tiếp tục. “Nó liên quan tới một vụ mất tích trước đây.” Ông ngập ngừng nói. Tiếp đó ông cung cấp các chi tiết cụ thể hơn, và nín thở cho tới khi

nghe thấy tiếng gõ phím ở đầu dây bên kia. Berish lẩm bẩm gì đó. “Trong dữ liệu không có gì nhiều, chỉ có bản sao báo cáo của cảnh sát khi đóng hồ sơ. ‘R.S. mười tuổi… mất tích ba ngày… tự quay về nhà…’” “Vì sao phải giấu tên của cậu bé?” Genko hỏi với giọng ngạc nhiên. “Thật sự không có một chút thông tin gì về những chuyện đã xảy ra với cậu bé trong bảy mươi hai giờ mất tích.” “Sao có thể như thế được?” “Hồ sơ đầy đủ có vẻ như đã được cất vào kho lưu trữ… Tôi e là anh sẽ phải đích thân tới đây.” Genko phớt lờ lời đề nghị. “Anh có thể cho tôi biết trong báo cáo anh đang xem còn gì khác được không?” “Tất cả những gì được viết trong đó chỉ là sau khi vụ việc xảy ra, bố mẹ cậu bé đã từ bỏ quyền nuôi con và cậu được giao cho một gia đình khác giám hộ tại trang trại Wilson.” Trang trại Wilson. Genko ghi lại thông tin này. “Còn một báo cáo tâm lí nữa, nếu anh quan tâm.” Berish nói tiếp. “Anh có muốn tôi gửi nó cho anh không?” “Anh chỉ cần đọc lên cho tôi nghe… Nếu anh không phiền.” “Không hề.” Berish đáp và bắt đầu đọc. “‘Mặc dù không cho thấy tổn thương trí não nào, bé gặp khó khăn trong việc biểu đạt cảm xúc và thường bộc lộ thái độ lo lắng quá mức, kèm theo hội chứng pica, đái dầm và thiếu ức chế tình dục.’” Pica là chứng ăn lặp đi lặp lại những thứ phi thực phẩm, chẳng hạn như

đất hay giấy. Còn về đái dầm, Genko đoán nó là di chứng của sốc. Nhưng thứ làm ông lo ngại chính là sự thiếu ức chế tình dục. Nó có nghĩa là gì? “‘Ngoài ra, tâm lí của bé bị ảnh hưởng bởi các rối loạn về giấc ngủ, thứ thường xuyên tạo ra những huyễn tưởng không lành mạnh được bé vẽ ra giấy khi thức dậy, cho thấy một hình dung non nớt về thực tế.’” Berish ngừng lời, rồi nói thêm. “Đính kèm biên bản có một vài bức vẽ.” Chi tiết này làm Genko bất ngờ. Hình dung non nớt về thực tế, ông tự lặp lại trong đầu. “Tôi đổi ý rồi, anh có thể gửi cho tôi một bản sao được không?” “Cho tôi địa chỉ email của anh.” Nếu Genko không cung cấp một địa chỉ email của cảnh sát, Berish sẽ lập tức nhận ra ông chỉ giả danh Bauer. “Tôi sẽ cho anh số fax.” “Các anh còn kém may mắn hơn cả chúng tôi.” Berish bình phẩm. Genko không rõ đó là một lời nói đùa hay một cách cho thấy anh ta không tin vào trò mèo của ông ngay từ đầu. “Vâng.” Ông đáp và cố rặn một tiếng cười, trước khi cung cấp một số fax mà anh ta không thể lần ra. “Tôi sẽ đi bật cái máy fax cũ kỹ của chúng tôi và gửi cho anh mọi thứ.” Berish hứa hẹn. “Dù sao thì, như tôi đã nói, anh có thể đến đây, bởi hồ sơ lưu trữ luôn chứa đựng những bất ngờ thú vị.” “Có lẽ tôi sẽ tạt qua đó.” Genko nói dối. “Cảm ơn anh rất nhiều.” Ông gác máy và nhìn chằm chằm vào máy fax của mình, chờ nó hoạt động, chẳng biết Simon Berish có gửi cho mình cái gì không. Ông đã thử vận may bằng cách mạo danh Bauer. Ông làm thế vì Minh

Phủ ít khi được xử lí những vụ việc quan trọng. Hơn nữa, vụ R.S. đã diễn ra từ thập niên 1980 và kết thúc có hậu vì cậu bé mất tích tự quay về. Cái án tử trước mắt đã làm ông khinh suất. Trước đây ông chưa bao giờ bất cẩn như thế. Nhưng trong khi Genko tự dằn vặt mình về điều đó, chiếc máy fax bắt đầu chạy và nhả ra vài tờ giấy. Sự nhẹ nhõm của ông không kéo dài. Thoạt đầu, ông cứ tưởng máy bị lỗi gì đó, vì tất cả các tờ fax đều có nội dung y hệt. Thế rồi ông nhận ra chúng là những bức vẽ khác nhau, với cùng những chi tiết được thể hiện lặp đi lặp lại như một sự ám ảnh. Một bầu trời đầy chim, một thành phố, hay đúng hơn là một khu phố. Ở trung tâm của bức vẽ là một nhà thờ lớn, phía sau lưng nó có một sân bóng đá. Nhưng thứ đập vào mắt Genko và khiến ông không thốt nên lời là cách thức mà R.S. vẽ những con người. Hình dung non nớt về thực tế là đây: Mọi cư dân tí hon của khu phố đều có cái đầu thỏ và đôi mắt hình trái tim.

13 Bình minh còn chưa kịp ló dạng khi ông lái xe xuyên qua vùng thôn quê. Trăng đã lặn, nhưng vẫn còn những vì sao trên trời. Chỉ vài ba giờ nữa thôi, mặt trời sẽ mọc lên, và hơi nóng sẽ bắt đầu thiêu đốt mọi thứ trở lại, buộc loài người phải chui vào trong nhà để trốn tránh mùa hè địa ngục. Trước khi lên đường, Genko đã khoác lên người bộ com-lê linen nhàu nhĩ bốc mùi. Mảnh bùa mà trên đó Tom đã vẽ chân dung gã đầu thỏ cũng nằm gọn trong túi áo. Ông đang trên đường đi gặp gia đình đã nhận chăm sóc cậu bé mười tuổi bị bố mẹ từ bỏ. Ông tìm thấy địa chỉ của họ trên mạng, nhưng trang trại có vẻ như đã ngừng hoạt động từ lâu. Sau khi rời đường cái và đi vào một lối mòn bẩn thỉu, chiếc Saab chạy qua một mê cung lối đi nằm giữa các ruộng hoa hướng dương. Ông đang sợ mình bị lạc đường thì đèn pha xe hơi rốt cuộc cũng chiếu vào một tấm bảng chỉ đường tới trang trại Wilson.

Đi tiếp sáu cây số nữa, ông trông thấy lờ mờ đường nét của một ngôi nhà trên nền trời sao. Nó nằm trên một quả đồi và được canh gác bởi hai cây bách. Chiếc Saab chạy qua một vòm cổng bằng gỗ rồi dừng lại cạnh nhà kho. Genko bước xuống xe và nhìn quanh, cố gắng quan sát xem có ai ở ngoài này hay không. Chắc là người ở đây không cần phải đảo lộn nhịp sinh hoạt ngày đêm. Ông thò tay vào trong xe và bấm còi để thu hút sự chú ý. Hai con chó bắt đầu sủa vang trong nhà. Đèn bật sáng ở một ô cửa sổ trên tầng hai. Không lâu sau đó, cửa trước mở ra, và một người nào đó xuất hiện. Genko không kịp nhìn thì bị luồng đèn pin rọi thẳng vào mặt. “Ai đó?” Một giọng phụ nữ cất lên, trong lúc hai con chó tiếp tục sủa ông ổng bên cạnh bà ta. “Bà Wilson phải không ạ?” Genko hỏi, tay đưa lên che mắt cho đỡ chói. “Tôi xin lỗi vì đã đường đột thế này, nhưng tôi cần nói chuyện với bà.” “Anh vẫn chưa xưng tên đó.” “Bà nói đúng. Tên tôi là Leonard Muster.” Genko nói dối, tay rút một tấm thẻ căn cước từ trong túi áo ra. “Tôi làm việc tại văn phòng công tố.” Người phụ nữ hạ đèn xuống và không nói gì trong giây lát, chắc là đang dò xét vị khách bất ngờ, trong đầu tự hỏi liệu có nên tin tưởng ông ta hay không. “Văn phòng công tố cần gì ở một bà già nghèo khó giữa đêm hôm khuya khoắt thế này?” Genko bật cười. “Chỉ là thủ tục thôi ạ.” “Thôi được rồi, anh đi vào đi. Chúng ta sẽ nói chuyện trong nhà.”

Tamitria Wilson và hai con chó lai đi trước dẫn đường. Bà mặc một chiếc áo ngủ dài đến mắt cá chân. Dù tóc đã bạc, bà vẫn nuôi đến lưng. Bà di chuyển với gậy chống tự chế từ một cái nhánh cây và dẫn vị khách vào căn bếp rộng, nơi có một cái bàn lớn bằng gỗ sồi. Tamitria ra hiệu cho lũ chó, và chúng tiến đến nằm bên cạnh lò sưởi. “Tôi giúp gì được đây, thưa anh Muster?” Bà hỏi trong lúc bật bếp ga để hâm nóng một ấm cà phê pha sẵn. Leonard Muster là cái tên giả mà Genko từng sử dụng trước kia. Thẻ viên chức cạo giấy không có được sức mạnh hù dọa như phù hiệu cảnh sát, nhưng lợi thế của nó là không tạo ra rào cản. Genko đã học được rằng đôi khi người ta đưa ra những thông tin sai lạc với nhân viên công lực bởi họ ngấm ngầm ghét uy quyền của cảnh sát. Để có được sự hợp tác đầy đủ, một thám tử tư lành nghề phải đặt mình ngang hàng với người đối thoại. “Một lần nữa tôi xin lỗi vì đã đánh thức bà vào giờ khuya khoắt thế này, nhưng tại thành phố, do cái nóng, các công sở đã thay đổi giờ giấc làm việc, và hiện nay chúng tôi bị buộc phải làm việc vào ban đêm. Tôi đã cố gắng gọi cho bà, nhưng không có ai bắt máy.” Genko giải thích. “Đường dây không hoạt động đã hơn một năm nay rồi.” Bà già nói với giọng chua chát. “Công ty điện thoại chẳng thèm đoái hoài.” Genko tin bà nói thật. Trên đường đi, ông không thấy có nhà dân nào khác. “Tôi đến đây vì công tố viên đã yêu cầu tôi thẩm tra lại hồ sơ của một vài trường hợp trẻ em mất tích để xem có bỏ sót gì không… Bà thấy đấy, từ khi Samantha Andretti tái xuất hiện, tất cả mọi người ở sở cảnh sát đều chịu sức ép lớn. Các sếp không muốn có bất kỳ bộ xương nào nhảy ra khỏi tủ áo nữa.”

“Tôi hiểu.” Bà già đáp với giọng không mấy tin. “Nhưng tôi giúp gì được cho anh?” “Trong số những đứa trẻ được bà nuôi nấng tại đây, bà có thể cho tôi biết bao nhiêu đứa đã có hoàn cảnh tương tự như Samantha Andretti được không?” Bà già quay người nhìn ông. “Tất cả.” Genko cố gắng che giấu sự kinh ngạc của mình. Ông không chờ đợi câu trả lời này. “Tất cả sao?” Ông hỏi lại. Tamitria đặt cây gậy xuống và nhấc ấm cà phê ra khỏi bếp. Bà tập tễnh xách nó cùng với hai cái tách tráng men đỏ đến bên bàn, mời Genko ngồi xuống một chiếc ghế đẩu, rồi cũng ngồi xuống theo. “Chồng tôi và tôi xây dựng nên chỗ này nhiều năm về trước.” Bà vừa nói vừa chỉ tay vào một thứ ở phía sau lưng Genko. Ông quay lại và thấy đó là một khung ảnh đặt trên lò sưởi. Trong ảnh có một người đàn ông tươi cười cầm khẩu súng săn, vây quanh bởi một đám trẻ con. “Chúng tôi không có con cái, do đó chúng tôi đã quyết định dành cuộc đời mình cho những đứa con bất hạnh của người khác.” “Một sứ mạng cao quý.” “Tôi hi vọng thế… Tôi từng gọi chúng là những đứa trẻ đặc biệt… Tôi yêu thương từng đứa một, như thể tôi là người rứt ruột đẻ ra chúng. Và bọn trẻ chưa bao giờ phụ lòng tôi. Cho dù không biết giờ chúng đang ở đâu, tôi tin chúng vẫn còn nhớ tới mình và tất cả những điều tôi dạy dỗ đều hữu

ích cho cuộc đời sau này của chúng.” Tamitria nói về đàn con nuôi của mình như thể họ là những người ưu tú chứ không chỉ là những đứa trẻ có vấn đề. Chỉ có sức mạnh của tình yêu mới có thể biến một khiếm khuyết thành thiên tư. “Anh có từng nghe nói tới ‘những đứa con của bóng tối’ chưa?” “Tôi chưa nghe.” Genko thừa nhận. Cách gọi của bà ta làm ông dựng tóc gáy. “Đó là những đứa trẻ mất tích rồi được cảnh sát tìm thấy hoặc quay về theo một cách thức không thể lí giải được, giống như Samantha Andretti.” Tamitria giải thích. “Chúng bị bắt cóc và bị lạm dụng bởi bọn vô lương tâm. Một số trốn thoát thành công, số khác thì được thả ra. Nhưng khoảng thời gian bị giam cầm đã in dấu lên suốt phần đời còn lại của chúng.” “Tại sao lại là ‘những đứa con của bóng tối’?” “Bởi chúng thường bị giam trong những căn hầm, bị chôn sống. Và khi nhìn thấy ánh sáng ban ngày trở lại, chúng giống như được sinh ra lần thứ hai. Nhưng chúng đã hoàn toàn thay đổi.” Trong sự im lặng tiếp nối, người phụ nữ lớn tuổi rót cà phê vào hai cái tách rồi đưa một cái cho Genko. Ông nhấm nháp thứ chất lỏng màu đen rồi hỏi tiếp: “Trong số những hồ sơ mà tôi xem ở văn phòng trước khi đến đây, có trường hợp của một cậu bé mười tuổi, được ghi nhận bằng hai ký tự R.S.” Tamitria ngẫm nghĩ một lúc. “Tôi cần biết cậu bé đó ở đây vào thời điểm nào.” “Đầu thập niên 1980, khoảng đó.” Tamitria sững người như thể bị sét đánh.

“Robin Sullivan.” Bà thình lình lên tiếng. “Đó là một vụ mất tích ngắn ngủi.” Genko nhắc lại. “Chỉ vỏn vẹn ba ngày. Nhưng sau đó, gia đình của cậu bé không muốn chăm sóc cậu nữa.” “Mẹ nó là người không tốt.” Bà già nói với giọng pha chút khinh bỉ. “Bố nó thậm chí còn tệ hơn. Tôi không biết tại sao hai người bọn họ cứ nhất định ở lại với nhau. Robin luôn bị kẹt ở giữa khi họ gây gổ, và thằng bé là người trả giá về lâu về dài. Tôi không nghĩ bố mẹ nó yêu thương nó.” Câu nói cuối và sự quả quyết trong giọng điệu của bà ta khiến Genko bỗng thấy buồn cho đứa trẻ. “Theo bà thì chuyện gì đã xảy ra với Robin trong ba ngày mất tích?” “Thằng bé không bao giờ muốn kể về chuyện đó.” Bà đáp với ánh mắt trầm ngâm. “Nó là một đứa con trai dễ tổn thương, cần rất nhiều sự yêu thương và trìu mến… Con mồi hoàn hảo cho những kẻ có ý đồ xấu.” “Nhưng làm sao bà biết chắc cậu ta bị bắt cóc chứ không phải tự ý bỏ nhà ra đi?” “Chúng dụ dỗ bọn trẻ bằng sự quan tâm mà bọn trẻ không được nhận ở nơi khác.” Tamitria đáp và nhìn thẳng vào mắt Genko. “Chúng giả vờ quan tâm, nhưng tất cả những gì chúng muốn là lôi bọn trẻ vào một nơi tăm tối.” “Phải, nhưng Robin…” Bà già đập mạnh tay xuống bàn, quắc mắt nhìn ông. “Anh thực sự muốn biết làm thế nào tôi dám chắc Robin là nạn nhân của một con quái vật hả?” Genko không đáp. “Bằng kinh nghiệm của mình, tôi biết Robin Sullivan là một đứa trẻ bình thường trước lúc mất tích. Có thể hơi cứng đầu một chút, giống như hầu

hết những đứa trẻ bị bỏ bê, nhưng nó bình thường. Sau những ngày kinh khủng mà nó không muốn kể lại ấy, nó đã thay đổi. Anh đã đọc hồ sơ của nó, anh hiểu tôi muốn nói gì.” “Pica, đái dầm…” Bruno liệt kê, nhớ lại những ghi chép ngắn ngủi mà đặc vụ Berish đã đọc cho mình qua điện thoại. “Thằng bé ăn đất, đá vụn, giấy vệ sinh. Chúng tôi đã phải giám sát nó không rời mắt, và đưa nó đi súc dạ dày sáu lần. Rồi nó chuyển sang ăn côn trùng.” Bà thở dài khi nhớ đến đó. “Thậm chí nó còn không kiểm soát được cơ thắt hậu môn, như một đứa bé mới đẻ. Chúng tôi buộc phải cho nó mặc tã, điều đó không giúp ích gì cho mối quan hệ giữa nó và những đứa trẻ khác: Chúng trêu chọc Robin và đánh thằng bé.” Đứa yếu nhất trong số những đứa yếu ớt, Genko thầm nghĩ. “Robin có thu mình lại và thích cô độc hay không?” “Ngược lại, Robin biểu lộ những cảm xúc nhiễu loạn ngay từ khi mới về với chúng tôi.” Genko nhớ đến sự thiếu ức chế tình dục được ghi trong báo cáo tâm lí. “Ý bà là sao?” “Thằng bé luôn tìm kiếm sự tiếp xúc thân thể với người khác. Đầu tiên là các thành viên trong gia đình, sau đó là những đứa trẻ khác tại trang trại. Ngay cả tôi và chồng tôi… Nhưng trong hành động tìm kiếm sự yêu thương của nó có gì đó không lành mạnh. Trong những động tác của Robin có một sự xấu xa khác thường đối với một đứa trẻ ở độ tuổi của nó.” “Phải chăng vì thế mà bố mẹ của Robin không muốn chăm sóc cậu ta nữa?” Tamitria nhìn ông chằm chằm.

“Bóng tối đã tiêm nhiễm vào thằng bé.” Một lần nữa, Genko rùng mình. Bóng tối đã tiêm nhiễm vào thằng bé, ông nhẩm lại trong đầu, ghi nhớ câu nói này, đoan chắc nó là chìa khóa tiếp cận thế giới bí ẩn của Robin. “Tôi xin lỗi vì đã khơi lại những ký ức không vui,” ông nói sau khi nhấp môi món cà phê dở tệ, “nhưng, như bà cũng hiểu, cơ quan chúng tôi sẽ rơi vào một tình thế không hay ho lắm nếu như hóa ra chúng tôi đã bỏ qua một vụ bắt cóc trẻ em khác.” “Thế anh còn muốn biết thêm gì nữa?” Tamitria bối rối hỏi lại. “Báo cáo đánh giá tâm lí Robin Sullivan có ghi nhận cậu bé bị rối loạn giấc ngủ.” “Ý anh là nó mơ thấy ác mộng chứ gì.” Bà giễu. “Tôi không thể hiểu nổi tại sao một số bác sĩ sính dùng từ ngữ đao to búa lớn để miêu tả một thứ đơn giản đến thế.” “Có gì lặp đi lặp lại trong những cơn ác mộng của Robin không?” Genko hỏi dồn. “Trẻ con sử dụng những giấc mơ để nói về thực tại. Mỗi khi chúng cảm thấy khó chịu hoặc hổ thẹn, chúng gọi đó là một giấc mơ.” Genko đã nhận ra sự né tránh của Tamitria Wilson. “Robin đã vẽ sau khi thức dậy.” Ông nói thêm và chờ đợi phản ứng của bà già. “Trong những bức vẽ này, con người trông giống như những con thỏ.” Bà già nhìn ông chăm chú một lúc. “Muster này, tôi biết vì sao anh tới đây tối nay rồi.” Genko bỗng cảm thấy sợ rằng bà ta đã nhận ra chân tướng của ông.

“Thế ạ?” Ông hỏi với vẻ mặt thích thú, cố gắng giữ sự bình thản. “Phải.” Tamitria đáp với giọng nghiêm túc. “Có lẽ đã đến lúc cho anh gặp Bunny.”

14 “Anh đi theo tôi nào. Cẩn thận bước chân.” Tamitria đã mở một cửa sập nằm trên sàn của kho chứa đồ, cho thấy một cầu thang dẫn xuống hầm. Tay cầm đèn pin, bà bắt đầu chậm chạp bước xuống thang nhờ sự giúp đỡ của cây gậy chống. Genko đi theo sau, chỉ lo bà ta bị ngã. “Tôi xin lỗi, dưới này không có điện.” Bà chỉ cái bóng đèn. “Trang trại xuống cấp nặng nề, và tôi không còn đủ sức lực để vận hành nó. Tôi đã cố, nhưng rồi nhận ra ngôi nhà này cũng lão hóa cùng với mình. Cả hai chúng tôi đều đầy bệnh tật, và không ai còn làm gì được nữa.” Genko thầm ghi nhận mối liên hệ giữa bà già sống cô độc trong ngôi nhà lớn và đường dây điện thoại ngưng hoạt động. Nếu bị khó ở hoặc gặp tai nạn, bà ta sẽ không thể gọi trợ giúp. Những con chó của bà ta sẽ nhảy loi choi bên xác chủ. “Lẽ ra tôi nên dọn đi từ nhiều năm nay, nhưng tôi quen sống tại đây

rồi.” Genko bám vào tay vịn cầu thang và nghe thấy những tấm ván kêu cọt kẹt theo từng bước chân. Điều làm ông bận tâm nhất là Tamitria Wilson không giải thích gì thêm. ‘Anh phải nhìn tận mắt thì mới hiểu được,’ bà ta chỉ nói như thế. Bunny là ai? Có phải bà ta đã nói rằng bà ta sống một mình trong ngôi nhà này? Phải chăng sự cô độc kéo dài đã làm bà ta lú lẫn? Ông chỉ muốn thu thập các thông tin về Robin Sullivan trước khi ra về, nhưng giờ thì ông không có lựa chọn nào khác ngoài đi theo bà ta xuống hầm. Khi xuống đến nơi, Tamitria lia đèn pin quanh căn hầm. Đó là một cái kho ngổn ngang những chiếc giường sắt gỉ sét, nệm, đồ đạc, hòm xiểng và đồ lặt vặt đủ loại. Có nhiều thứ đến nỗi ông không thể xác định được kích thước của căn hầm. “Tôi tiếp tục được một thời gian sau khi chồng qua đời.” Bà ta nói trong lúc len lỏi đi sâu hơn giữa những cái tủ xiêu vẹo và đống đồ đạc linh tinh. “Nhưng rồi chính quyền ngừng hỗ trợ chúng tôi, và tôi không thể thuê nhân viên được nữa. Thế là tôi bỏ cuộc.” “Chuyện đó xảy ra khi nào?” Genko thắc mắc. “Cậu bé đặc biệt cuối cùng của chúng tôi rời mái ấm cách đây đã chín năm.” “Thế còn Robin?” Tamitria vịn vào cánh tay của Genko để bước qua mấy cái hộp bị đổ xuống từ một chồng cao. “Robin đi năm mười tám tuổi, cũng như những đứa khác. Ít nhất tôi đã giúp nó có được mảnh bằng tú tài.” Bà nói với giọng tự hào.

Genko chỉ lo bà già sẽ vấp ngã giữa đống rác bừa bộn. “Và bà không có tin tức gì của cậu ta từ dạo ấy? Bà có số điện thoại hay địa chỉ của cậu ta không?” “Có lần thằng bé gửi cho tôi một cái bưu thiếp từ một khu nghỉ dưỡng ở phía nam vịnh biển.” Bà đáp trong lúc đi vòng qua một chồng tạp chí cũ đã phai màu. “Sau đó thì, tuyệt nhiên không có gì.” Hai con chó không đi theo họ xuống dưới hầm. Thỉnh thoảng chúng sủa vài tiếng từ trên đầu cầu thang. Tiếng sủa mỗi lúc một xa xăm, và Genko không trách sự nhát gan của chúng. Bunny, ông nhủ thầm một lần nữa. Ông hi vọng chuyện này đáng công. Họ đã đi tới một bức tường gạch đen nhẻm vì ẩm mốc. Tamitria chiếu đèn vào chân tường. Genko nhích lại gần và thấy dưới sàn có một cái rương lớn màu xanh lá cây với những chi tiết mạ đồng, giống như đồ cổ. Nó bị khóa bằng một ổ khóa to. “Đây rồi.” Bà già thông báo. “Bunny ở trong này.” Genko có cảm giác lạ lùng rằng ông đang đứng trước một cỗ quan tài. Tamitria không nói gì thêm. Bà đưa đèn pin cho ông, đặt cây gậy chống xuống sàn, và khó nhọc quỳ xuống trước cái rương. Genko thấy bà già loay hoay một lúc với sợi dây đeo cổ. Bà tháo nó xuống, và ông đoán có một chìa khóa được gắn vào đó, vì Tamitria đã mau chóng lúi húi với ổ khóa. Sau khi gỡ ổ khóa ra, bà mở nắp rương. Genko không nhúc nhích. “Phiền anh chiếu đèn vào đây.” Ông tiến lại gần và chĩa đèn pin vào bên trong rương. Nó chứa toàn là vải trải giường trắng và khăn thêu. Tư trang của cô dâu

về nhà chồng thời trước. “Tôi đã quyết định cất Bunny trong này, vì không biết phải để nó ở đâu.” Tamitria nói trong lúc sục tay qua những lớp vải. “Đáng lẽ tôi nên vứt nó đi, nhưng một phần trong tôi quyết định không làm thế.” Bà ta đang nói gì vậy? Trong cái rương này có gì? Tamitria bỗng dừng tay và Genko nhận ra bà đã tìm thấy, nhưng ông bị cái lưng của bà chắn mất tầm nhìn. Bà già đang quan sát một món đồ trên tay. “Bunny.” Ông nghe thấy bà ta gọi khẽ như thể vừa thấy lại một người bạn cũ đã lâu không gặp. Cuối cùng Tamitria quay lại. Bà ghì chặt một cuốn sách mỏng trước ngực. “Bunny đến đây cùng với Robin. Chúng tôi luôn kiểm tra tư trang của những đứa trẻ mới đến, vì không muốn chúng mang theo những món đồ có thể gây nguy hiểm cho bản thân hoặc cho những đứa trẻ khác, như ná hoặc dao găm chẳng hạn. Ngay khi mở va-li của Robin và thấy cái này, tôi lập tức nhận ra có gì đó không ổn.” Bà đưa cuốn sách cho Genko. “Muster này, anh có bao giờ linh cảm một điều chẳng lành nhưng không thể lí giải được hay chưa?” Genko ngạc nhiên với sự ngập ngừng của mình. Có gì đó kìm hãm sự hiếu kỳ của ông – một linh tính. Nhưng rồi ông cầm lấy cuốn sách từ tay bà già và nhìn nó. Đó chỉ là một cuốn truyện tranh trẻ con đã cũ. Màu mực in đã phai nhạt, nhưng hình vẽ trên bìa sách thể hiện một con

thỏ lớn có đôi mắt hình trái tim, với vẻ mặt vui tươi và dễ thương. Nó đang mỉm cười. Tựa truyện được in ở giữa hai cái tai của nó và chỉ gồm một từ duy nhất: BUNNY. “Tôi xem qua được không?” Genko hỏi. “Được chứ, anh cứ tự nhiên.” Genko nhìn quanh và thấy một chồng va-li cũ. Ông đặt đèn pin lên đó để rảnh tay mở cuốn truyện. Các hình vẽ trắng đen có chất lượng trung bình. Câu chuyện cũng khá trẻ con. Bunny rời khu rừng và chuyển tới sống ở một công viên trong thành phố lớn. Tại đó, nó gặp một nhóm trẻ con và kết bạn với chúng. Nó chơi đùa cùng bọn trẻ. Cả câu chuyện lẫn hình vẽ đều không cho thấy gì bất thường. Tuy nhiên, thay vì cảm thấy niềm vui hay sự bình yên, ông nhận thấy một điều gì đó khó giải thích. Càng đọc, ông càng thấy không thoải mái. Bà già nói đúng. Cuốn truyện tranh này có gì đó không ổn. Một chi tiết đặc biệt làm ông lo ngại: Những người lớn trong truyện không biết đến sự tồn tại của Bunny. Chỉ bọn trẻ con mới có thể nhìn thấy nó. Genko cố gắng đọc kỹ hơn. Ông có cảm giác mình đã ở rất gần một lằn ranh mỏng manh, và cho dù không thể thấy được phía bên kia, ông biết có một điều gì đó khủng khiếp đang chờ đợi mình. Genko tập trung đến nỗi không nhận ra Tamitria Wilson đã không nói năng gì được một lúc. Ông cũng không thấy một bóng đen vươn dài phía trên đầu mình, cũng như chuyển động nhanh chóng trong không khí của cây gậy chống khi bị nó giáng mạnh vào gáy.

Hình ảnh cuối cùng mà ông nhìn thấy là con thỏ Bunny đang nhoẻn cười.

15 Genko biết mình còn sống khi nếm được vị của máu trong miệng. Ông dùng lưỡi kiểm tra bên trong miệng và nhận ra mình bị mất một cái răng. Chắc nó bị gãy khi ông ngã sấp mặt xuống sàn. Mụ già khốn kiếp, ông nghĩ bụng. Quanh ông là bóng tối mịt mùng, nhưng qua mùi ẩm mốc và bụi bặm, ông nhận ra mình vẫn còn đang ở trong căn hầm lớn bên dưới trang trại Wilson. Ông cố đứng dậy nhưng bị choáng váng và buồn nôn, mồ hôi túa ra, trống ngực thình thịch. Lạ làm sao, giờ đây ông chẳng hề sợ rằng thời khắc của mình đã điểm. Tình hình hiện tại còn tệ hơn cái chết. Bị mắc kẹt trong lòng đất, không có ánh sáng hay lối ra. Bị chôn sống. Một đứa con của bóng tối, giống như cách gọi mà Tamitria Wilson dùng cho những đứa trẻ bị bắt cóc. Con quái vật của ông là một mụ già thọt chân và sống một mình.

Để có thể vượt qua nỗi sợ hãi, Genko cố gắng phân tích chuyện đã xảy ra. Ông còn nhớ việc mình đọc cuốn truyện tranh, gương mặt của Bunny, và cú đánh đột ngột vào gáy. Vì sao Tamitria Wilson đánh ông? Mụ ta có thể viện cớ gì đó để tống khứ ông đi và không cho ông vào nhà kia mà? Thay vào đó, mụ đưa ông xuống dưới này để cho ông xem cuốn truyện tranh của Robin Sullivan. Thật vô lí. Chắc mụ bị điên thật rồi. Genko mò mẫm bấu vào mép rương để làm điểm tựa, chống một đầu gối xuống sàn, rồi nhỏm dậy. Ông cảm thấy gáy mình cứng đơ và một cơn đau xuyên thấu xương sọ ra tận hốc mắt. Ông hộc lên một tiếng nhỏ, trầm đục: Dạ dày của ông vừa lộn trở về vị trí cũ. Sau đó, ông giơ tay tìm chồng va-li ban nãy, và sờ thấy cuốn truyện tranh ở đó, vẫn đang mở. Ông đóng nó lại và cất vào trong túi áo vest, nơi có mảnh bùa hộ mạng. Lúc đó ông mới nhận ra mình không còn ví tiền, điện thoại di động, cũng như thẻ căn cước giả. Chúng không bị rơi ra. Mụ ta đã lấy chúng. Việc đầu tiên cần làm là quay trở lại chỗ cầu thang, nhưng ông không nhớ nổi họ đã len lỏi theo lối nào để tới được chỗ cái rương màu xanh. Rất khó để tìm đường quay lại trong bóng tối, nhưng ông không muốn bỏ cuộc khi chưa thử. Ông bèn giơ tay ra phía trước, quờ quạng trong bóng tối để tìm một lối ra. Trong lúc bước đi, ông cố hình dung những món đồ trước mặt. Một cái cửa tủ, một cái giá treo áo, một cây đèn. Chốc chốc, đầu gối ông lại va phải thứ gì đó khiến ông suýt ngã sõng soài vài bận. Nhưng tất cả những gì ông tập trung vào lúc này chính là hơi thở của mình. Chừng nào tôi còn không khí trong phổi… Ông lặp lại lời hứa với Linda trong đầu.

Kế hoạch của ông là quay lại chỗ cửa sập dẫn lên phòng kho bên trên. Ông tin chắc nó đã bị đóng, và ông sẽ phải dùng vai đẩy nó lên. Không rõ ông có làm được chuyện đó không, vì có vẻ nó khá nặng. Sau khi lên được mặt đất, ông biết mình sẽ phải đối diện với Tamitria và cây gậy chống của mụ. Hoặc cũng có thể mụ ta có một khẩu súng – ông nhớ lại khẩu súng mà chồng của mụ cầm trong tấm ảnh đặt trên lò sưởi. Ông không thích súng. Ông chỉ cần đến nó đôi ba lần trong quá trình hành nghề của mình, nhưng chưa bao giờ bóp cò. Dù vậy, ông biết cách sử dụng súng và luyện tập đều đặn ở một trường bắn tư nhân. Ông sở hữu hai khẩu súng ngắn. Một khẩu Beretta được cất trong két an toàn tại phòng làm việc, và một khẩu bán tự động giấu dưới bánh xe sơ cua của chiếc Saab. Hiện giờ cả hai đều nằm ngoài vùng tiếp cận đối với ông. Genko chậm rãi tiến tới, không biết mình sẽ gặp phải cái gì, cho đến khi những ngón tay ông chạm vào một thứ gì đó cứng và nhẵn. Ông nhận ra mình đã ở cùng đường, vì đó là một bức tường gạch. “Chết tiệt!” Ông rủa. Nhưng ông không có lí do gì để tức giận. Có lẽ tình huống này là sự báo trước cho những gì chờ đợi ông sau khi chết. Một địa ngục tăm tối dành riêng cho ông. Một sự trừng phạt xứng đáng cho những tội lỗi ông đã gây ra trong suốt cuộc đời mình. Cho những gì chứa trong két sắt của phòng 115 khách sạn Ambrus, ông tự nhủ, và cảm thấy hổ thẹn. Rồi ông nghe thấy những âm thanh nhỏ và bị bóp nghẹt vọng đến từ phía bên trái mình. Tiếng rên rỉ. Không phải, một giọng nói. Ông di chuyển theo hướng đó, men theo bức tường, rồi gặp một thứ gì giống cái cột. Ông sờ soạng kiểm tra nó. Đó là một đường ống nước bằng gang dày, dẫn lên mặt đất. Ông biết, bởi cùng giọng nói ban nãy đang vọng

tới trong lòng ống. Nó phát xuất từ ngôi nhà bên trên. Để nghe tốt hơn, Genko áp tai vào lớp kim loại. Âm thanh không được rõ, nhưng có vẻ như đó là giọng của Tamitria Wilson. Những từ ngữ tan biến trước khi kịp có nghĩa. Ông cố tập trung. Thật phí công, lớp gang dày không cho phép ông giải nghĩa được thứ giai điệu ồm ồm này. Nhưng đường ống bỗng dẫn âm tốt hơn, và những từ ngữ trở nên dễ nghe hơn. Chắc mụ già đã tiến lại gần khu vực trên đầu ông. Rốt cuộc ông cũng hiểu được một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 15

Đang tải bình luận...