3
Tháng Ba, 2012
Người phụ nữ mặc chiếc áo khoác xám nhạt đứng ở phía bên kia bưu điện, vờ chăm chú xem giá xoay trưng bày thiệp chúc mừng. Cô xoay cái giá chầm chậm, từng vòng từng vòng một, nhưng ánh mắt cô không hề đặt vào những tấm thiệp, mà luồn qua những khoảng hở giữa chúng. Cô đang nhìn chăm chú vào anh ta. Ngay đằng kia. Adrian Wolfe.
Anh ta mặc một chiếc áo khoác dạ tweed dáng dài dày cộp, quần jeans đen, giày đi bộ dã ngoại và quàng khăn màu đỏ thẫm. Dáng người cao gầy, nhìn từ phía sau trông anh ta chỉ chừng hai mươi tuổi, nhưng nhìn thẳng mặt thì rõ là một người đàn ông trung niên. Dẫu vậy, nét từng trải toát lên ở anh ta lại có nét cuốn hút, gần như là đẹp trai, với mái tóc sẫm màu rậm rạp và đôi mắt cụp buồn như mắt chó spaniel. Vẻ ngoài của anh ta dần trở nên thuận mắt và hấp dẫn hơn trong mắt cô suốt những tuần qua, khi cô bám theo anh ta từ nơi này sang nơi khác.
Cô nhìn anh ta rút thứ gì đó từ túi áo ra. Một mẩu bìa trắng hình chữ nhật nhỏ. Anh ta nói vài câu với một nhân viên, người đó gật đầu rồi chỉ tay vào một khoảng trống trên bảng tin cộng đồng. Adrian Wolfe rút một chiếc đinh ghim trên bảng ra rồi ghim mẩu bìa của mình lên đó. Anh lùi lại một lát để ngắm lại. Đoạn, anh đút hai tay vào túi chiếc áo khoác dạ dày cộp rồi rời đi.
Người phụ nữ lách mình ra khỏi giá để thiệp và bước nhanh tới bảng tin, nơi cô đọc mẩu giấy của Adrian Wolfe:
Cô nhìn dáo dác từ trái qua phải, rồi lại từ phải qua trái, trước khi giật phắt mẩu bìa khỏi bảng tin rồi nhét vội vào túi xách của mình.
Tìm Mái Ấm Tốt Cho Mèo Trưởng Thành
Billie khoảng chừng tám tuổi. Bé là một cô mèo ta nhị thể trắng đen, tính tình rất ngoan và hầu như không có tật xấu nào gây phiền toái.
Tôi đang trải qua một số biến động cá nhân nên không còn khả năng chăm sóc cho bé chu đáo như bé xứng đáng được nhận.
Nếu bạn muốn ghé qua gặp mặt Billie xem có hợp nhau không, vui lòng gọi cho tôi theo số điện thoại bên dưới.
***
"Nó rụng lông hơi nhiều đấy."
Adrian liếc về hướng con mèo, con vật đang nhìn người phụ nữ xa lạ như thể biết tỏng cô tới đây để trao cho nó cơ hội đổi đời.
Người phụ nữ lạ mặt tên Jane mỉm cười, vuốt dứt khoát một đường dọc sống lưng con mèo rồi bảo, "Không sao đâu. Tôi có máy Animal rồi."
Adrian nheo mắt nhìn cô. Trong tâm trí, anh mường tượng ra cảnh cô ngồi trên ghế sofa với một con hổ bên cạnh, hoặc có khi là một con ngựa. "Một con thú... ý cô là một con thú cưng khác à?"
Cô bật cười. "À không, xin lỗi, một trong mấy cái máy hút bụi ấy, anh biết đấy, loại chuyên dùng cho người nuôi thú cưng. Loại hút sạch lông ấy mà."
"Àaa." Anh gật gù ra vẻ hiểu. Nhưng thực ra anh chẳng biết gì.
"Vậy... sao anh lại muốn tống nó đi?" Cô gỡ vài sợi lông dính trong lòng bàn tay rồi thả cho chúng rơi xuống sàn.
Adrian nở một nụ cười buồn, để những câu chữ tiếp theo thốt ra một cách nhẹ nhàng nhất có thể. Đến nước này, anh đã quá thành thục cái ngón nghề biến những điều đau lòng trở nên dễ nghe hơn với người khác.
"À, ừ thì, Billie là mèo của vợ tôi. Nhưng vợ tôi đã qua đời rồi. Mười một tháng trước. Cứ mỗi lần nhìn thấy Billie là tôi lại ngỡ vợ mình sắp bước vào phòng. Nhưng cô ấy đâu có về nữa. Thế nên..." Anh nhún vai. "Đành vậy thôi. Đã đến lúc phải chia tay Billie rồi." Anh nhìn con mèo bằng ánh mắt âu yếm, dẫu sâu thẳm bên trong chẳng hề có chút tình cảm nào với nó. Anh không muốn người phụ nữ xa lạ này thấy được góc khuất ấy - cái phần cằn cỗi, chết lặng trong tâm can có thể trở nên lạnh lùng, ghét bỏ một con mèo vô tội.
Người phụ nữ ngước nhìn anh, đôi mắt ngập tràn nỗi xót xa. "Chúa ơi," cô thốt lên, "tôi rất tiếc. Thật khủng khiếp." Lọn tóc mái màu vàng kim rũ xuống che ngang mắt, cô đưa những ngón tay thon thả khẽ vén nó sang một bên. Từng cử chỉ của cô đều chuẩn xác đến hoàn hảo, tựa như một vũ công chuyên nghiệp hay một học viên theo phương pháp tư thế Alexander. Adrian nhận ra điều đó cùng lúc anh để mắt tới vòng eo của cô - nhỏ nhắn, gọn gàng trong chiếc váy sơ mi xanh thẫm được là ủi phẳng phiu, thắt lại bằng một chiếc dây lưng - và đôi hoa tai
bằng thủy tinh xanh bé xíu thả mình trên móc bạc, tông màu tiệp tuyệt đối với chiếc váy. Cô mang một đôi bốt da lửng màu rám nắng gót thấp, rải rác vài chiếc đinh tán bạc trên mũi giày. Trông cô chỉn chu đến mức gần như khiến người ta phải e dè.
Cả hai cùng quay lại nhìn Billie một lần nữa.
"Vậy," Adrian mở lời, "cô thấy sao?"
"Tôi thấy bé rất đáng yêu," cô đáp. Rồi cô ngập ngừng nhìn Adrian. Anh giật mình nhận ra mắt cô có màu không đồng nhất: một bên màu xám xanh, bên kia cũng màu xám xanh nhưng lại điểm một đốm hổ phách. Anh nín thở.
Nó đây rồi
, anh thầm nghĩ,
vết tì vết
. Bất kỳ người phụ nữ nào anh từng yêu cũng đều có một nét bất toàn như thế. Vết sẹo vắt ngang lông mày (Caroline). Khe hở giữa hai chiếc răng cửa (Susie). Mái tóc đỏ rực cùng những vết tàn nhang hung hung dày đặc (Maya).
"Nhưng mà," cô nói tiếp, "tôi không chắc là anh đã sẵn sàng để bé ra đi."
Anh tò mò nhìn cô, háo hức muốn nghe lập luận đằng sau nhận định ấy.
"Anh sống cùng Billie bao lâu rồi?" cô hỏi.
Anh nhún vai. "Maya mang nó theo khi dọn về sống chung với tôi. Tính ra chắc cũng gần bốn năm."
Anh có thể thấy cô đang nhanh chóng nhẩm tính các mốc thời gian phía sau đôi mắt hai màu ấy. Một người vợ dọn đến ở cùng rồi qua đời, tất cả chỉ vỏn vẹn trong vòng bốn năm. Những con số thật khó để nuốt trôi. Khó tin và bi kịch hệt như
một bộ phim dở tệ. Nhưng đây đâu phải phim ảnh. Ồ không, cay đắng thay, đây chính là Đời Thực của anh.
Cô lắc đầu rồi mỉm cười. "Bé rất ngoan," cô nhắc lại. "Nhưng..."
Adrian quan sát cô đang lựa lời tiếp theo.
"Tôi chưa thực sự cảm nhận được."
"Cô chưa thực sự cảm nhận được...?"
Anh nhìn chằm chằm vào con mèo, lần đầu tiên đánh giá nó một cách khách quan. Anh chưa bao giờ là người mê mèo, và trong mắt anh con nào cũng na ná như nhau. Bốn chân. Vài sợi ria. Hai cái tai hình tam giác. Kích cỡ cỡ một chiếc cặp xách. Chẳng hề có những biến thể muôn hình vạn trạng, kỳ thú như loài chó: tai dài quét đất, tai dựng đứng chọc trời, mõm tẹt, mõm nhọn, con thì bé như sóc, con lại to như ngựa con.
"Sự kết nối."
Anh dùng ngón cái và các ngón tay xoa xoa chóp cằm, cố tỏ vẻ thấu hiểu mối băn khoăn của cô. "Tôi hiểu rồi."
"Tôi có thể suy nghĩ thêm được không?" cô hỏi, kéo lại quai chiếc túi xách màu xám xà cừ nhỏ nhắn lên vai.
"Tất nhiên rồi! Tất nhiên! Dù sao cô cũng là người duy nhất phản hồi mẩu tin, nên quyền quyết định hoàn toàn thuộc về cô."
Cô mỉm cười với anh. "Tuyệt quá. Tôi có thể quay lại không? Tầm ngày mai chẳng hạn? Để gặp lại bé lần nữa?"
Adrian bật cười. Một cô gái thật kỳ lạ. "À, ừ. Chắc là được thôi. Dù ngày mai tôi phải chạy ngoài đường khá nhiều. Cô có số của tôi rồi đúng không? Để tiện gọi trước ấy?"
"Có chứ." Cô chìa tay ra bắt tay anh. "Tầm giữa buổi sáng tôi sẽ gọi cho anh. Xem sắp xếp thế nào nhé."
"Được." Adrian tiễn cô ra phía cửa chính rồi mở cửa giúp cô.
"Chà," cô thốt lên khi nhìn vào chiếc bảng trắng đóng đinh trên tường phía trên bàn làm việc của anh. "Cái này trông có vẻ quay cuồng đấy nhỉ."
"Ừ. Quay cuồng chính là từ chuẩn nhất đấy. Hơi giống cuộc đời tôi lúc này. Cái này" - anh chỉ tay vào bảng lịch trình - "là ranh giới duy nhất ngăn tôi rơi vào cảnh hỗn loạn toàn tập."
Cô khựng lại, khóe môi khẽ nở một nụ cười, rồi lướt ngón tay qua dòng chữ
Sinh nhật 10 tuổi của Pearl. Strada Upper St. 6:30 tối
. "Anh đã mua quà cho con bé chưa?"
Anh giật mình trước câu hỏi. Quá đỗi tò mò vào đời tư, nhưng lại nghe vô cùng tự nhiên, hợp lý.
"Rồi," anh nói. "Thực ra là tôi mua rồi."
"Giỏi quá!" cô khen. "Rất chu đáo. Thôi được rồi. Vậy mai tôi sẽ gọi cho anh nhé. Và cảm ơn anh. Cảm ơn vì đã cho tôi thời gian cân nhắc. Quyết định trọng đại mà, không thể vội vàng được."
"Không, không, tuyệt đối không nên vội."
Anh đóng cửa lại sau khi cô bước ra, rồi bất giác tựa hẳn người vào cánh cửa, cảm giác như thể cô đã mang theo luôn cả trọng tâm cân bằng của anh khi rời đi.
***
Chiếc bảng trắng vốn là ý tưởng của Maya. Maya thuộc tuýp người luôn nhìn thấu bản chất vấn đề và giải quyết nó gọn gàng. Mà vấn đề ở đây là: dẫu anh luôn muốn làm tất cả mọi người được hạnh phúc, anh lại cứ liên tục gây ra những chuyện khiến người ta đau lòng. Và anh ước gì mình có thể bàng quan hơn. Ước gì anh có thể nhún vai rồi bảo:
Thì đấy, đời là thế, nhân vô thập toàn mà.
Nhưng cứ mỗi lần quên ngày sinh nhật của một đứa con, quên hẹn đi xem kịch hay dự lễ trao giải của chúng, trong anh lại dâng lên nỗi căm ghét bản thân tột cùng. Cái đại gia đình cồng kềnh, lệch chuẩn này hoàn toàn là sản phẩm từ những quyết định của chính anh, và vì thế, trách nhiệm thuộc về anh trong việc đảm bảo không ai phải chịu tổn thương từ những dư chấn ấy. Vậy mà chúng vẫn cứ ập tới. Đoàng một phát: một cô con gái khóc nức nở. Choảng một cái: một cậu con trai thất vọng tràn trề. Bùm một tiếng: một cô vợ cũ nổi cơn bực bội.
"Tội nghiệp Adrian," Maya từng nói một ngày nọ, sau khi anh vừa trải qua một cuộc điện thoại tồi tệ với Caroline về buổi họp phụ huynh mà anh quên bẵng không tới dự.
Adrian đã thở dài, gục đầu vào vai Maya và bảo: "Anh đúng là một thảm họa. Một quả tạ phá hoại cuộc đời người khác. Anh chỉ ước sao lũ trẻ hiểu được rằng dù bố chúng là một thằng đãng trí vô tích sự, thì từng phút từng giây trong ngày, anh vẫn luôn nghĩ về chúng."
Và rồi cô đã hé lộ món đồ này. Hai người gọi nó là
Bảng Hòa Hợp
. Cả một năm trời được lên lịch chi tiết và đánh dấu bằng các mã màu riêng biệt: sinh nhật của lũ trẻ, sinh nhật của các
cô vợ cũ, sinh nhật của các bà mẹ vợ cũ, ai đón Giáng sinh ở đâu, đứa nào sắp chuyển cấp hay tốt nghiệp đại học, lịch nghỉ giữa kỳ và nghỉ lễ của ba đứa trẻ đang tuổi đến trường, cùng lịch trình đi lại và phỏng vấn xin việc của hai đứa con đã trưởng thành. Nếu anh nói chuyện với một đứa con và chúng kể cho anh nghe bất cứ điều gì về cuộc sống của mình, dẫu nhỏ nhặt đến đâu, anh cũng sẽ ghi lại vào đây:
Cat đi xem căn hộ cuối tuần này.
Bằng cách đó, lần tới khi nói chuyện với Cat, chắc chắn anh sẽ nhớ để hỏi han con bé. Mọi thứ đều nằm trọn trên chiếc bảng ấy. Từng chi tiết vụn vặt nhất trong cuộc đời của những gia đình mà chính anh đã tạo dựng rồi lại dứt áo ra đi.
Adrian chưa bao giờ có ý định để cuộc đời mình trở nên rắm rối nhường này. Hai người vợ cũ. Một người vợ đã khuất. Ba cậu con trai. Hai cô con gái. Ba ngôi nhà. Và một con mèo. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, không chỉ là những mối liên hệ trực tiếp ấy, mà còn là vô số những con người khác bị cuốn vào quỹ đạo của anh thông qua những gia đình chắp vá này: bạn trai và bạn gái của các con, bố mẹ của những đứa bạn thân nhất của chúng, những giáo viên được yêu thích, bố mẹ vợ, chị em dâu rể - những con người vốn là cô, dì, chú, bác, ông bà và anh chị em họ của những đứa con thân yêu của anh. Những người từng đóng một vai trò vô cùng lớn trong đời anh và vẫn tiếp tục hiện diện sâu sắc trong đời con cái anh.
Những người mà anh không thể đành lòng ngừng nghĩ đến, ngừng bận tâm hay ngừng yêu thương chỉ vì anh không còn tình cảm với con gái, chị em gái hoặc dì của họ nữa.
Và nỗi đau ấy lại nhói lên. Một mũi kim sắc lẹm của bi kịch đâm thẳng vào góc mềm yếu nhất nơi tâm can khi anh nghĩ về
Maya. Người chẳng để lại điều gì. Gần như chẳng có gì cả. Bố mẹ cô - những người anh thậm chí còn chưa kịp hiểu rõ; một người anh trai mà anh chưa từng gặp ngoại trừ vài phút ngắn ngủi tại đám cưới; một cô bạn thân sắc sảo, cay nghiệt dường như đang đổ hết mọi tội lỗi về cái chết của Maya lên đầu anh. Và con mèo này. Con mèo vừa thất bại trong việc tạo dựng sự gắn kết với cô gái trẻ đẹp tên Jane, và kết quả là nó vẫn nằm đây, cuộn tròn như một dấu phẩy đen bóng bẩy trong vệt nắng rọi nghiêng qua khung cửa.
Anh bước băng qua căn phòng rồi ngồi xuống cạnh con mèo. Anh ngắm nhìn nó một lát. Maya từng cưng chiều con mèo này như con mọn, suốt ngày miệng lẩm bẩm về nó, mua cho nó đủ loại đồ ăn vặt đắt tiền cùng những món đồ chơi mà nó chẳng bao giờ thèm ngó ngàng tới. Anh đã từng dõi theo cô, vừa thích thú vừa buồn cười. Và rồi một ngày nọ, vài tuần trước lễ cưới, dù cô chưa từng mở lời đòi hỏi, anh đã bảo với cô rằng anh vẫn có thể gánh thêm một đứa con nữa. "Chỉ một đứa bé tí ti thôi nhé," anh nói, hai bàn tay giơ ra cách nhau vài inches. "Một đứa mình có thể nhét vừa trong cái hộp chẳng hạn. Hoặc bỏ túi áo."
"Thế nếu nó lớn lên thì sao?" cô hỏi.
"Thì mình ấn nó xẹp bớt xuống một chút," anh đáp, vừa làm bộ vỗ vỗ vào hai bên hông của một đứa bé tí hon.
"Vậy nó phải là một đứa bé khá xốp đấy nhỉ?"
"Đúng rồi," anh bảo. "Lý tưởng nhất là thế."
Anh đặt một bàn tay lên lưng con mèo, nó giật mình nảy người trước cái chạm của anh. Cũng phải thôi, anh có mấy khi đụng
vào người nó. Nhưng rồi nó mềm lòng, lật ngửa bụng ra trước mặt anh, để lộ lớp lông đen dày êm như đệm cùng hai hàng núm vú hồng hào lấp ló. Anh áp tay vào bụng nó và giữ nguyên ở đó, cảm nhận sự an ủi ấm áp từ lớp da thịt và dòng máu nóng hổi đang chảy bên dưới lòng bàn tay. Con mèo khẽ quơ chân cào cào vào tay anh đùa nghịch, và trong một thoáng chốc, Adrian cảm nhận được một thứ cảm xúc rất con người dành cho con vật - thứ "sự kết nối" mà cô gái tên Jane kia từng nhắc tới.
Có lẽ cô ấy nói đúng
, anh trầm ngâm.
Có lẽ mình vẫn cần mảnh ghép sống động, còn đang thở này của Maya trong đời.
Rồi, khi ý nghĩ ấy lướt qua tâm trí đang chìm trong tang tóc, anh khẽ bóp nhẹ vào chân trước của con mèo và giật nảy mình rụt tay lại với một tiếng kêu đau đớn, khi một móng vuốt cong vút, bé xíu của nó đâm phập vào vùng da non mỏng manh nơi cổ tay trong của anh.
"Á. Đéo mẹ." Anh đưa vội cổ tay lên miệng mút chặt. "Sao mày lại làm thế hả?"
Con mèo bật dậy, nhảy phắt khỏi ghế sofa trước tiếng quát gắt gỏng của anh. Anh trân trân nhìn vào cổ tay mình, vào vết kim châm bé xíu trên da, một màu đỏ sẫm đen sì, nhưng không hề rỉ máu. Anh tiếp tục nhìn chằm chằm vào đó, thầm mong nó bật máu ra, mong nó trào ra một thứ gì đó ấm nóng, tươi sáng và rất đỗi con người. Nhưng tuyệt nhiên chẳng có gì.