4
Lại là tối thứ Bảy. Tối thứ Bảy thứ bốn mươi bảy kể từ ngày Maya qua đời.
Mọi chuyện chẳng hề dễ dàng hơn chút nào.
Adrian bâng quơ tự hỏi không biết gia đình mình giờ này đang làm gì. Anh hình dung ra cảnh họ ngồi thành hàng trước màn hình tivi, theo dõi bất kỳ chương trình nào đang làm mưa làm gió vào tối thứ Bảy lúc này. Cuối tuần trước lũ trẻ sang đây đã bắt anh xem cái gì ấy nhỉ? Một show nào đó có Ant và Dec dẫn. Anh gần như chẳng thể nhớ nổi. Anh chỉ thấy may là nó không phải mấy cái chương trình tìm kiếm tài năng kinh hãi, nơi người ta cứ khóc lóc sướt mướt khắp cả trường quay.
Khi bóng tối bắt đầu phủ dài trên vỉa hè bên ngoài và một cơn mưa rào nhẹ hạt lách tách đập vào các ô cửa kính, Adrian tự rót cho mình một ly rượu vang rồi kéo chiếc laptop lại gần.
Mãi đến khi Maya mất và bỏ lại anh trơ trọi một mình - lần đầu tiên sống đơn độc kể từ năm mười chín tuổi - anh mới nhận ra mình chẳng có nổi lấy một người bạn. Trong quá khứ anh từng có bạn bè, nhưng họ chỉ là "gói đính kèm" từ hai cuộc hôn nhân trước. Những người bạn anh quen ở Sussex cùng Susie thì vẫn ở lại Sussex với Susie. Những người bạn chung với Caroline thì đứng hẳn về phe cô ấy sau vụ vụng trộm của anh với Maya. Hoặc đúng hơn là, họ đứng về phe các bà vợ của mình. Còn anh và Maya thì chẳng kết giao thêm ai, bởi cả hai đã quá bận rộn với việc làm vui lòng tất cả mọi người.
Có vài kẻ dở hơi bỗng dưng xuất hiện sau cái chết của Maya, những người anh chưa từng nghĩ mình sẽ gặp lại: gã hiệu phó có vẻ ngoài hơi nham hiểm ở trường nữ sinh nơi Maya từng dạy học - người anh từng có một cuộc trò chuyện dài đầy gượng gạo trong một đêm gây quỹ; người chồng cũ của một cô bạn Caroline - kẻ mà giọng mũi khó chịu của hắn từng là đề tài để anh và Caroline khoái chí nhại lại sau lưng; rồi ông bố có tính khí khá hiếu chiến của bạn bé Pearl - người mà Adrian chỉ
gặp thoáng qua trong những đợt đón đưa con kéo dài vỏn vẹn chín mươi giây trước cửa nhà mỗi bên. Họ lôi kéo anh vào các quán rượu, thậm chí thi thoảng còn tới cả các hộp đêm. Họ ép anh nốc rượu cho đến khi trông anh có vẻ như đang tận hưởng cuộc vui, rồi sau đó cố mai mối cho anh bắt chuyện với những phụ nữ chẳng hề phù hợp. "Đây là Adrian, bạn tôi. Cậu ấy vừa mất vợ."
Cũng có cả một đàn phụ nữ túa đến ngay sau cái chết của Maya. Chủ yếu là các bà mẹ của bạn học lũ trẻ - chính những người đàn bà từng nhìn anh bằng ánh mắt ghê tởm tột cùng khi nghe tin anh bỏ Caroline, thì nay lại vây quanh anh với đôi mắt mở to đầy vẻ quan tâm, mang cho anh đủ thứ đồ ăn đựng trong hộp Tupperware, để rồi sau đó anh lại phải lúi húi rửa sạch và mang trả kèm theo những lời cảm ơn rối rít.
Lúc đó anh đâu có cần họ. Anh chỉ muốn giam mình trong nhà, khóc cho thỏa và tự dằn vặt với hàng vạn câu hỏi tại sao, tại sao và tại sao.
Bây giờ, mười một tháng sau, anh vẫn không biết tại sao, nhưng anh đã thôi không còn tự hỏi nữa rồi.
***
Cô gái tên Jane lại đến vào ngày hôm sau. Lần này mái tóc màu mật ong của cô được xõa xuống, sấy uốn thành những lọn bồng bềnh chạm khẽ vào xương quai xanh, phần tóc mái rẽ ngôi giữa rũ xuống hai bên mặt như thể cô đang ngó nghiêng qua bức màn sân khấu. Trong những phút giây trước khi cô tới, Adrian đã làm những điều mà chính anh cũng chẳng muốn đào sâu nghĩ lại. Anh đã mang chiếc gương cầm tay của Maya từ một góc tối trong nhà ra chỗ góc sáng rực rỡ, rồi săm soi gương
mặt mình đến từng chi tiết vụn vặt, trần trụi dưới ánh sáng hắt vào từ khung cửa sổ hướng tây. Maya tròn ba mươi tuổi khi anh gặp cô, và lúc đó anh bốn mươi tư. Khi ấy anh từng tự thấy mình là một gã bốn mươi tư tuổi trẻ trung. Một mái tóc nâu sẫm dày dặn, đôi mắt màu hạt dẻ sáng ngời, khóe môi hằn những nếp nhăn cười tươi tắn - gương mặt trong gương khi đó vẫn đúng là những gì anh mong đợi.
Thời gian và nỗi đau buồn đều tàn nhẫn ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng nghiệt ngã nhất là ở cái ngưỡng trung niên dở dang này, khi gương mặt bỗng giống như một hình ảnh chập chờn trong một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt đầy vẻ làm màu - lúc mờ lúc tỏ, khi già khi trẻ, già rồi lại trẻ. Nhưng rồi vào một khoảnh khắc nào đó sau cái chết của Maya, hình ảnh ấy đã ngừng chập chờn và dừng lại ở đó. Bất động. Gương mặt của một kẻ già nua hơn mức anh từng tưởng tượng. Suốt mấy tháng qua anh chẳng mấy khi soi gương, nhưng giờ đây anh lại muốn biết trông mình ra sao. Anh muốn thấy những gì mà Jane sẽ thấy.
Tỉ mỉ từng chi tiết một, anh nhận ra đường viền hàm của mình đã bắt đầu chảy xệ; anh thấy những nếp gấp và nếp nhăn nhúm trên da cổ gợi anh nhớ tới những bờ biển hoang sơ, lồi lõm vì ngấn nước thủy triều ở bắc Norfolk. Anh thấy những bọng mỡ ngả vàng bên dưới mi mắt; thấy làn da khô ráp, đôi mắt hạt dẻ đã phai màu và mái tóc bạc dần, từ màu nâu đậm óng ả chuyển thành thứ gì đó nhang nhác màu của mặt đường ướt sũng.
Sau khi màn tự soi xét kết thúc, anh bước vào phòng tắm và bôi trát lên mặt đủ thứ trong những tuýp và lọ mà Maya để lại. Anh gội đầu hai lần cho đến khi tóc sạch kin kít dưới đầu ngón tay. Và rồi, có lẽ là lần đầu tiên trong đời, anh dùng dầu xả. Anh chẳng buồn tự hỏi tại sao. Anh cứ thế làm thôi. Đoạn, anh
là phẳng một chiếc áo sơ mi. Chiếc áo màu xanh lá mà Maya từng bảo là tôn lên màu mắt hạt dẻ của anh. Rồi anh dùng máy sấy của Maya để sấy tóc, lùa các ngón tay qua từng lọn tóc, chải chuốt cho nó mượt mà và thơm tho.
Anh thầm tự rủa mình khi nhìn đồng hồ nhảy từ 11:22 sang 11:23, còn đúng bảy phút trước giờ hẹn. "Thằng ngốc," anh lẩm bẩm dưới hơi thở. "Đúng là một thằng già dở hơi hết thuốc chữa." Anh cắm ấm đun nước rồi dọn dẹp, sắp xếp lại đồ đạc trên kệ bếp cho trông có vẻ hiếu khách hơn. "Bốn mươi tám," anh tự càu nhàu. "Mày bốn mươi tám tuổi rồi. Mày là một gã góa vợ. Một thằng khốn vô tích sự."
Và rồi cô xuất hiện ở đó, trẻ trung một cách lạ kỳ ngoài cửa chính, với đôi mắt hai màu và kiểu tóc mái giả lả ngây thơ, người thoang thoảng mùi hoa nhài cùng hương thơm của áo quần sạch sẽ. Hai tay cô ôm chặt chiếc túi nhỏ nhắn ngang bụng, người khoác chiếc áo choàng xám mềm mại cài duy nhất một chiếc cúc to bản.
"Mời vào. Mời vào."
"Tôi thật sự xin lỗi," cô nói, tự tin sải bước vào hành lang. "Tôi biết chắc anh nghĩ tôi bị điên."
"Gì cơ? Làm gì có!"
"Tất nhiên là có rồi. Cứ như thể tôi đang hẹn hò với con mèo của anh vậy. Kiểu như đang tán tỉnh nó ấy. Có khi bước tiếp theo là tôi sẽ xin phép đưa nó đi ăn tối mất."
Adrian nhìn Jane rồi bật cười. "Cứ tự nhiên," anh bảo. "Nó ăn uống lịch sự lắm. Mà cũng chẳng ăn nhiều đâu."
Jane tiến về phía con mèo, lúc này nó đang nằm ở chỗ quen thuộc trên lưng ghế sofa cạnh cửa sổ phía trước. Thấy cô tới gần, con mèo quay lại, chìa mặt ra vẻ hớn hở. "Chào bé," Jane nói, hai tay ôm lấy mặt con mèo rồi âu yếm ngắm nhìn. "Cô bé ngoan quá."
"Cô dùng trà nhé?" Adrian hỏi. "Cà phê? Hay nước lọc?"
"Cho tôi xin một tách cà phê," cô đáp. "Tối qua tôi quậy hơi quá chén."
Adrian gật đầu. Trông cô chẳng có vẻ gì là vừa trải qua một đêm tiệc tùng bạt mạng. Thậm chí trông cô như thể cả đời chưa từng biết đến một đêm say xỉn là gì.
"Cà phê đen nhé?"
Cô mỉm cười. "Đen ạ."
Khi Adrian bưng cà phê quay lại, anh thấy Jane đang ngồi trên ghế sofa, con mèo nằm gọn trong lòng và trên tay cô là khung ảnh mấy đứa nhỏ nhà anh.
"Mấy đứa trẻ này đẹp quá," cô nói, xoay bức ảnh về phía anh. "Đều là con của anh hết sao?"
Anh liếc nhìn bức ảnh. Đó là Otis, Pearl và Beau, đứa nào cũng đội mũ đi mưa và mang ủng cao su, đang lội nước ngập đến đầu gối trong một con rạch ở đâu đó vùng West Country. Phía sau lưng chúng, bầu trời xám xịt như màu nòng súng, bên dưới chân là dòng nước màu kim loại xám thép, và quần áo sặc sỡ của tụi nhỏ nổi bần bật trên cái phông nền u ám, trông hệt như hình cắt dán vào vậy. Beau vòng tay ôm lấy eo Pearl, còn Pearl thì tựa đầu vào hõm vai Otis. Đó là một bức ảnh tràn ngập hạnh phúc; cả ba đứa trẻ đều cười rất tươi và tự nhiên với đôi mắt
mở to cùng khóe miệng thư thái. Bức ảnh do chính tay Maya chụp. Lũ trẻ luôn nở nụ cười rạng rỡ nhất trước ống kính của Maya.
Adrian đưa cà phê cho Jane và cô đặt nó lên mặt bàn. "Ừ," anh nói. "Tất cả đều là con tôi."
"Tên tụi nhỏ là gì vậy?"
Anh liếc nhìn cô. Đến răng mình còn vừa dùng chỉ nha khoa vì người phụ nữ này cơ mà - thì việc cô tò mò hỏi mấy chuyện riêng tư thế này có gì đáng ngạc nhiên đâu.
"À," anh nói, lướt ngón tay qua bức ảnh. "Đây là Otis, mười hai tuổi; kia là Pearl, con bé..."
"Gần mười tuổi."
Anh liếc xéo nhìn cô. Cô cũng nhìn lại anh với vẻ tinh nghịch.
"Phải. Con bé gần mười tuổi. Còn nhóc tì này là Beau. Vừa tròn năm tuổi."
"Đáng yêu quá," cô nói, cẩn thận đặt bức ảnh lại lên bàn rồi nhấc tách cà phê lên. "Và tụi nhỏ không sống cùng anh à?"
"Cô tò mò thật đấy," anh nói rồi ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện cô.
"Tôi tọc mạch mà," cô đáp. "Anh cứ nói thẳng ra đi. Tôi không để bụng đâu."
"Được thôi. Cô rất tọc mạch."
Cô bật cười. "Xin lỗi nhé, tôi chỉ luôn thấy cuộc sống của người khác rất thú vị thôi. Xưa giờ vẫn vậy."
Anh mỉm cười. "Không sao. Tôi cũng thế." Anh hít một hơi sâu rồi đưa tay xoa cằm vừa cạo nhẵn nhụi. "Không," anh nói. "Tụi nhỏ không ở với tôi. Chúng ở với mẹ. Trong một căn nhà phố năm tầng kiểu kiến trúc Georgian ở Islington."
"Chà." Jane đưa mắt đảo quanh phòng khách chật chội, như một sự ngầm thừa nhận rằng vợ cũ của Adrian đã vớ được phần hời hơn.
"Tôi thấy ổn mà," anh vội xua đi. Anh ghét nhất là bị ai đó thương hại, dẫu chỉ là trong thoáng chốc. "Rất ổn là đằng khác. Cứ cách một tuần thì cuối tuần tụi nhỏ lại qua đây chen chúc, vẫn đủ chỗ. Nhóc Beau ngủ cùng tôi, Pearl với Otis thì ở phòng trống bên cạnh. Rất ổn."
"Vậy anh với người vợ quá cố không có con chung sao?"
"Không." Adrian lắc đầu. "Đáng tiếc là không. Dù lạy Chúa, tôi cũng chẳng biết mình sẽ xoay xở thế nào nếu hai đứa có con nữa. Ý tôi là... chắc tôi phải nghỉ việc mất. Và cả cái cơ đồ vốn đã bấp bênh này sẽ sụp đổ tan tành cho xem."
"Ngôi nhà lớn ở Islington..."
"Phải. Và cả ngôi nhà nhỏ kiểu nông thôn ở Hove nữa."
Cô nhướng mày nhìn anh đầy vẻ tò mò.
"Vợ cũ đầu tiên đấy," anh đáp. "Susie. Mẹ của hai đứa con lớn nhất nhà tôi. Đây này..." Anh đứng dậy, cầm lấy một khung ảnh khác và đưa cho cô. "Cat và Luke. Tụi nhóc lớn nhà tôi."
Cô trố mắt nhìn bức ảnh. "Con cái của anh đứa nào trông cũng rất đặc biệt," cô bảo. "Hai đứa này bao nhiêu tuổi rồi?"
"Tháng Năm này Cat tròn hai mươi. Luke thì hai mươi ba."
"Đều thành người lớn cả rồi nhỉ?"
"Ừ. Đều lớn cả rồi. Dù đôi khi tôi vẫn chẳng cảm nhận được điều đó."
"Và tụi nhỏ sống ở Hove sao? Cùng với mẹ chúng à?"
"Luke thì ở đó. Còn Cat hiện đang ở London. Sống cùng Caroline."
"Caroline?"
"Ừ. Caroline. Vợ thứ hai của tôi."
Jane nhìn ra phía cánh cửa thông ra hành lang. "Giờ thì tôi hoàn toàn hiểu tác dụng của cái thứ kia rồi," cô nói. "Chiếc bảng trắng ấy."
"Phải. Bảng Hòa Hợp. Ơn Chúa vì có nó. Và tạ ơn Chúa vì đã có Maya." Anh thở hắt ra thật mạnh, cố nén một cơn xúc động chực trào nước mắt.
Jane nhìn anh bằng ánh mắt đầy trắc ẩn. "Vậy, nếu không phiền tôi hỏi... Maya đã qua đời như thế nào?"
"À, về mặt y khoa, cô ấy chết do chấn thương sọ não và xuất huyết nội ồ ạt sau khi bị một chiếc xe buýt đêm tông phải trên đường Charing Cross lúc ba giờ ba mươi sáng. Nhưng về mặt nguyên nhân thực sự, chẳng ai biết vì sao cô ấy lại ra nông nỗi bị xe buýt đêm đâm trúng trên đường Charing Cross vào cái giờ đó." Anh nhún vai.
"Vậy không phải là tự sát sao?"
"Thì... kết luận chính thức là chết do tai nạn, nhưng những người như Maya - một người chừng mực và lý trí - thường
chẳng bao giờ vô cớ say khướt đến mức không đứng vững nổi rồi ngã bổ nhào vào đầu xe buýt trên đường Charing Cross lúc ba giờ ba mươi sáng cả. Thế nên..."
"Vẫn là một dấu hỏi lớn."
"Phải. Một dấu hỏi to đùng."
"Chúa ơi, tôi dám cá là anh rất muốn biết sự thật."
Adrian thở dài. "Chắc chắn rồi. Thật khó để bước tiếp khi mọi chuyện chưa có câu trả lời."
"Bản thân anh có suy đoán nào không?"
"Không," anh bảo. "Chẳng có gì cả. Mọi chuyện ập đến quá đỗi bất ngờ. Chúng tôi vừa trở về từ Suffolk sau một kỳ nghỉ cùng gia đình. Chúng tôi đã có một khoảng thời gian tuyệt vời. Hôm đó cô ấy còn dành trọn cả ngày bên các con tôi." Anh khựng lại, cố kéo mình ra khỏi khoảng tối tăm mà tâm trí anh luôn trượt vào mỗi khi nghĩ về những giờ phút cuối cùng không lời giải đáp trong đời Maya. "Chúng tôi đang rất hạnh phúc. Cả hai còn đang tính chuyện sinh con. Mọi thứ đều hoàn hảo."
"Thật thế sao?"
Anh liếc nhìn cô đầy dò xét. Câu hỏi nghe như một lời buộc tội. "Phải," anh đáp, giọng gần như gắt lên. "Thực sự, thực sự rất hoàn hảo."
Jane chầm chậm thả bàn tay từ xương quai xanh xuống đùi. "Còn quá trẻ," cô thì thầm.
"Còn quá trẻ," anh lặp lại.
"Thật bi kịch."
"Ừ."
"Thật kinh khủng."
"Ừ."
Và nó lại ùa tới, hệt như một luồng gió lạnh, chuẩn xác từng giây từng phút: Sự Im Lặng Gượng Gạo. Cái chết của Maya là một ngõ cụt cho mọi cuộc trò chuyện. Bất kể anh đang nói chuyện với ai, rồi cũng sẽ đến lúc Cạn Lời Để Nói. Nhưng mà Đổi Chủ Đề Ngay Lúc Đó Thì Lại Quá Thô Lỗ. Với người lạ, khoảnh khắc ấy lại càng đến sớm hơn.
"Thôi được rồi," cô dứt khoát nói rồi bật dậy. "Tôi phải đi đây."
"Ồ," anh ngơ ngác trước sự đường đột ấy. "Được rồi. Còn Billie thì sao? Hôm nay cô đã cảm thấy có sự kết nối hơn chưa?"
"Có chứ," cô nói, "thực ra là có. Nhưng tôi sẽ không bắt nó đi đâu. Tôi sẽ để nó lại. Với anh. Tôi nghĩ anh cần nó."
Anh nhìn cô. Rồi lại nhìn con mèo. Và anh biết cô đã nói đúng.
"Cảm ơn cô," anh bảo. "Phải. Cô nói đúng. Tôi thực sự cần nó."
Cô mỉm cười đầy thấu hiểu nhìn anh. "Tốt quá rồi," cô nói.
"Tôi cũng chẳng hiểu mình đã nghĩ gì nữa, thật đấy. Chắc tôi cứ ngỡ làm vậy là điều tích cực. Kiểu như để bước tiếp ấy mà. Cô biết đấy."
"À," cô vừa nhặt túi xách vừa nói. "Bước tiếp là chuyện tự nhiên sẽ đến với anh, chứ không phải thứ anh gồng mình lên mà làm được. Đó là điều người đời thường không hiểu. Bước
tiếp chẳng phải là một hành động có chủ đích. Nó là một quá trình tự nhiên. Hãy cứ dịu dàng với bản thân mình thôi." Cô vuốt lại vạt váy len dệt kim, hất nhẹ mái tóc vàng qua vai rồi cầm chiếc áo khoác trên tay vịn ghế sofa lên.
Adrian trân trân nhìn cô.
Bước tiếp không phải là hành động có chủ đích.
Tại sao trước đây chưa từng có ai nói với anh điều đó? Tại sao ai ai cũng chỉ chăm chăm bảo anh phải làm cái này cái nọ để thấy khá hơn?
Đi đâu đó khuây khỏa một thời gian đi. Tham gia trang web hẹn hò đi. Đi trị liệu tâm lý đi. Chuyển nhà đi. Vứt bớt đồ đạc đi.
Trong khi anh chẳng hề muốn làm bất cứ điều gì trong số đó. Anh không hề muốn bước tiếp. Anh chỉ muốn ở yên ngay tại vị trí này. Chìm nghỉm và đè nặng dưới cái địa ngục trần gian của nỗi đau thương tang tóc. "Cảm ơn cô," anh nói. "Vâng. Cảm ơn cô. Tôi sẽ làm như vậy."
Cô lại liếc nhìn chiếc Bảng Hòa Hợp khi anh tiễn cô ra tận cửa. "Anh đã mua quà gì cho bé thế?" cô hỏi.
"Hả...?"
"Pearl ấy? Sinh nhật con bé ấy?"
"À," anh nói, lại thêm một lần bất ngờ trước sự tự nhiên đến suồng sã của cô. "Tôi mua giày trượt băng cho con bé."
Jane gật đầu. "Hay đấy."
"Năm nào tôi cũng tặng con bé giày trượt băng. Nó là vận động viên trượt băng nghệ thuật mà. Tập từ hồi bé tí, đâu tầm năm tuổi gì đó. Con bé giỏi lắm... toàn đoạt giải thôi... cả cúp lẫn huy chương. Cứ rảnh rỗi là lại lên khu Ally Pally để luyện tập."
Mắt Jane mở to. "Chà," cô trầm trồ. "Đáng nể thật đấy. Nhỏ tuổi thế mà đã có mục tiêu rõ ràng. Thời buổi này quả là hiếm có."
"Phải. Đúng vậy. Tôi cũng chẳng hiểu con bé thừa hưởng cái tính đó từ ai nữa. Hồi tôi mười tuổi, tôi chỉ toàn thích trèo lên cây rồi ném đồ vào người ta thôi."
Jane mỉm cười nhưng không bật cười thành tiếng. "Được rồi," cô nói, "rất vui được gặp anh, Adrian. Cả cô mèo đáng yêu của anh nữa. Hy vọng hai người sẽ hòa thuận với nhau."
"Vâng. Giờ thì tôi nghĩ chắc sẽ ổn thôi. Nhờ có cô cả đấy."
Cô nắm lấy tay anh rồi bắt. Bàn tay cô mát lạnh và mềm mượt. Adrian bỗng thấy một cơn hoảng loạn dâng lên trong lòng khi cô nới lỏng cái bắt tay, một thứ cảm giác sợ hãi đầy bản năng và nguyên thủy. Anh chỉ muốn hét lên:
Đừng đi! Uống thêm tách cà phê nữa đi! Hỏi tôi thêm vài câu nữa đi! Đừng bỏ tôi lại ở chốn này một mình!
Nhưng thay vào đó, anh chỉ vỗ nhẹ lên vai cô, cảm nhận lớp dạ êm như nhung của chiếc áo khoác len tinh tươm dưới những ngón tay mình, rồi cất lời: "Rất vui được gặp cô, Jane. Bảo trọng nhé."
"Anh cũng vậy nhé, Adrian. Chúc anh mọi điều may mắn."
Anh đóng cửa lại sau khi cô bước ra rồi chạy ngay ra cửa sổ để nhìn theo bóng lưng cô. Anh ngồi ké một góc trên lưng ghế sofa cùng Billie, lặng nhìn Jane rẽ trái rồi bất chợt dừng lại; và hoàn toàn nằm ngoài dự đoán, cô rút một bao thuốc lá từ trong chiếc túi xách gọn gàng ra. Anh thấy cô lấy chiếc bật lửa nhựa từ một ngăn khác trong túi, châm thuốc, rít một hơi sâu, cất bật
lửa lại, kéo khóa túi rồi rảo bước nhanh về phía con phố chính, để lại phía sau một vệt khói mờ ảo như bóng ma lững lờ trôi.