hồi mẩu tin, nên quyền quyết định hoàn toàn thuộc về cô." Cô mỉm cười với anh. "Tuyệt quá. Tôi có thể quay lại không? Tầm ngày mai chẳng hạn? Để gặp lại bé lần nữa?"
Adrian bật cười. Một cô gái thật kỳ lạ. "À, ừ. Chắc là được thôi. Dù ngày mai tôi phải chạy ngoài đường khá nhiều. Cô có số của tôi rồi đúng không? Để tiện gọi trước ấy?" "Có chứ." Cô chìa tay ra bắt tay anh. "Tầm giữa buổi sáng tôi sẽ gọi cho anh. Xem sắp xếp thế nào nhé." "Được." Adrian tiễn cô ra phía cửa chính rồi mở cửa giúp cô. "Chà," cô thốt lên khi nhìn vào chiếc bảng trắng đóng đinh trên tường phía trên bàn làm việc của anh. "Cái này trông có vẻ quay cuồng đấy nhỉ." "Ừ. Quay cuồng chính là từ chuẩn nhất đấy. Hơi giống cuộc đời tôi lúc này. Cái này" - anh chỉ tay vào bảng lịch trình - "là ranh giới duy nhất ngăn tôi rơi vào cảnh hỗn loạn toàn tập." Cô khựng lại, khóe môi khẽ nở một nụ cười, rồi lướt ngón tay qua dòng chữ Sinh nhật 10 tuổi của Pearl. Strada Upper St. 6:30 tối. "Anh đã mua quà cho con bé chưa?" Anh giật mình trước câu hỏi. Quá đỗi tò mò vào đời tư, nhưng lại nghe vô cùng tự nhiên, hợp lý. "Rồi," anh nói. "Thực ra là tôi mua rồi." "Giỏi quá!" cô khen. "Rất chu đáo. Thôi được rồi. Vậy mai tôi sẽ gọi cho anh nhé. Và cảm ơn anh. Cảm ơn vì đã cho tôi thời gian cân nhắc. Quyết định trọng đại mà, không thể vội vàng được." "Không, không, tuyệt đối không nên vội." Anh đóng cửa lại sau khi cô bước ra, rồi bất giác tựa hẳn người vào cánh cửa, cảm giác như thể cô đã mang theo luôn cả trọng tâm cân bằng của anh khi rời đi.
*** Chiếc bảng trắng vốn là ý tưởng của Maya. Maya thuộc tuýp người luôn nhìn thấu bản chất vấn đề và giải quyết nó gọn gàng. Mà vấn đề ở đây là: dẫu anh luôn muốn làm tất cả mọi người được hạnh phúc, anh lại cứ liên tục gây ra những chuyện khiến người ta đau lòng. Và anh ước gì mình có thể bàng quan hơn. Ước gì anh có thể nhún vai rồi bảo: Thì đấy, đời là thế, nhân vô thập toàn mà. Nhưng cứ mỗi lần quên ngày sinh nhật của một đứa con, quên hẹn đi xem kịch hay dự lễ trao giải của chúng, trong anh lại dâng lên nỗi căm ghét bản thân tột cùng. Cái đại gia đình cồng kềnh, lệch chuẩn này hoàn toàn là sản phẩm từ những quyết định của chính anh, và vì thế, trách nhiệm thuộc về anh trong việc đảm bảo không ai phải chịu tổn thương từ những dư chấn ấy. Vậy mà chúng vẫn cứ ập tới. Đoàng một phát: một cô con gái khóc nức nở. Choảng một cái: một cậu con trai thất vọng tràn trề. Bùm một tiếng: một cô vợ cũ nổi cơn bực bội. "Tội nghiệp Adrian," Maya từng nói một ngày nọ, sau khi anh vừa trải qua một cuộc điện thoại tồi tệ với Caroline về buổi họp phụ huynh mà anh quên bẵng không tới dự. Adrian đã thở dài, gục đầu vào vai Maya và bảo: "Anh đúng là một thảm họa. Một quả tạ phá hoại cuộc đời người khác. Anh chỉ ước sao lũ trẻ hiểu được rằng dù bố chúng là một thằng đãng trí vô tích sự, thì từng phút từng giây trong ngày, anh vẫn luôn nghĩ về chúng." Và rồi cô đã hé lộ món đồ này. Hai người gọi nó là Bảng Hòa Hợp. Cả một năm trời được lên lịch chi tiết và đánh dấu bằng các mã màu riêng biệt: sinh nhật của lũ trẻ, sinh nhật của các
cô vợ cũ, sinh nhật của các bà mẹ vợ cũ, ai đón Giáng sinh ở đâu, đứa nào sắp chuyển cấp hay tốt nghiệp đại học, lịch nghỉ giữa kỳ và nghỉ lễ của ba đứa trẻ đang tuổi đến trường, cùng lịch trình đi lại và phỏng vấn xin việc của hai đứa con đã trưởng thành. Nếu anh nói chuyện với một đứa con và chúng kể cho anh nghe bất cứ điều gì về cuộc sống của mình, dẫu nhỏ nhặt đến đâu, anh cũng sẽ ghi lại vào đây: Cat đi xem căn hộ cuối tuần này. Bằng cách đó, lần tới khi nói chuyện với Cat, chắc chắn anh sẽ nhớ để hỏi han con bé. Mọi thứ đều nằm trọn trên chiếc bảng ấy. Từng chi tiết vụn vặt nhất trong cuộc đời của những gia đình mà chính anh đã tạo dựng rồi lại dứt áo ra đi. Adrian chưa bao giờ có ý định để cuộc đời mình trở nên rắm rối nhường này. Hai người vợ cũ. Một người vợ đã khuất. Ba cậu con trai. Hai cô con gái. Ba ngôi nhà. Và một con mèo. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, không chỉ là những mối liên hệ trực tiếp ấy, mà còn là vô số những con người khác bị cuốn vào quỹ đạo của anh thông qua những gia đình chắp vá này: bạn trai và bạn gái của các con, bố mẹ của những đứa bạn thân nhất của chúng, những giáo viên được yêu thích, bố mẹ vợ, chị em dâu rể - những con người vốn là cô, dì, chú, bác, ông bà và anh chị em họ của những đứa con thân yêu của anh. Những người từng đóng một vai trò vô cùng lớn trong đời anh và vẫn tiếp tục hiện diện sâu sắc trong đời con cái anh. Những người mà anh không thể đành lòng ngừng nghĩ đến, ngừng bận tâm hay ngừng yêu thương chỉ vì anh không còn tình cảm với con gái, chị em gái hoặc dì của họ nữa. Và nỗi đau ấy lại nhói lên. Một mũi kim sắc lẹm của bi kịch đâm thẳng vào góc mềm yếu nhất nơi tâm can khi anh nghĩ về
Maya. Người chẳng để lại điều gì. Gần như chẳng có gì cả. Bố mẹ cô - những người anh thậm chí còn chưa kịp hiểu rõ; một người anh trai mà anh chưa từng gặp ngoại trừ vài phút ngắn ngủi tại đám cưới; một cô bạn thân sắc sảo, cay nghiệt dường như đang đổ hết mọi tội lỗi về cái chết của Maya lên đầu anh. Và con mèo này. Con mèo vừa thất bại trong việc tạo dựng sự gắn kết với cô gái trẻ đẹp tên Jane, và kết quả là nó vẫn nằm đây, cuộn tròn như một dấu phẩy đen bóng bẩy trong vệt nắng rọi nghiêng qua khung cửa. Anh bước băng qua căn phòng rồi ngồi xuống cạnh con mèo. Anh ngắm nhìn nó một lát. Maya từng cưng chiều con mèo này như con mọn, suốt ngày miệng lẩm bẩm về nó, mua cho nó đủ loại đồ ăn vặt đắt tiền cùng những món đồ chơi mà nó chẳng bao giờ thèm ngó ngàng tới. Anh đã từng dõi theo cô, vừa thích thú vừa buồn cười. Và rồi một ngày nọ, vài tuần trước lễ cưới, dù cô chưa từng mở lời đòi hỏi, anh đã bảo với cô rằng anh vẫn có thể gánh thêm một đứa con nữa. "Chỉ một đứa bé tí ti thôi nhé," anh nói, hai bàn tay giơ ra cách nhau vài inches. "Một đứa mình có thể nhét vừa trong cái hộp chẳng hạn. Hoặc bỏ túi áo." "Thế nếu nó lớn lên thì sao?" cô hỏi. "Thì mình ấn nó xẹp bớt xuống một chút," anh đáp, vừa làm bộ vỗ vỗ vào hai bên hông của một đứa bé tí hon. "Vậy nó phải là một đứa bé khá xốp đấy nhỉ?" "Đúng rồi," anh bảo. "Lý tưởng nhất là thế." Anh đặt một bàn tay lên lưng con mèo, nó giật mình nảy người trước cái chạm của anh. Cũng phải thôi, anh có mấy khi đụng
vào người nó. Nhưng rồi nó mềm lòng, lật ngửa bụng ra trước mặt anh, để lộ lớp lông đen dày êm như đệm cùng hai hàng núm vú hồng hào lấp ló. Anh áp tay vào bụng nó và giữ nguyên ở đó, cảm nhận sự an ủi ấm áp từ lớp da thịt và dòng máu nóng hổi đang chảy bên dưới lòng bàn tay. Con mèo khẽ quơ chân cào cào vào tay anh đùa nghịch, và trong một thoáng chốc, Adrian cảm nhận được một thứ cảm xúc rất con người dành cho con vật - thứ "sự kết nối" mà cô gái tên Jane kia từng nhắc tới. Có lẽ cô ấy nói đúng, anh trầm ngâm. Có lẽ mình vẫn cần mảnh ghép sống động, còn đang thở này của Maya trong đời. Rồi, khi ý nghĩ ấy lướt qua tâm trí đang chìm trong tang tóc, anh khẽ bóp nhẹ vào chân trước của con mèo và giật nảy mình rụt tay lại với một tiếng kêu đau đớn, khi một móng vuốt cong vút, bé xíu của nó đâm phập vào vùng da non mỏng manh nơi cổ tay trong của anh. "Á. Đéo mẹ." Anh đưa vội cổ tay lên miệng mút chặt. "Sao mày lại làm thế hả?" Con mèo bật dậy, nhảy phắt khỏi ghế sofa trước tiếng quát gắt gỏng của anh. Anh trân trân nhìn vào cổ tay mình, vào vết kim châm bé xíu trên da, một màu đỏ sẫm đen sì, nhưng không hề rỉ máu. Anh tiếp tục nhìn chằm chằm vào đó, thầm mong nó bật máu ra, mong nó trào ra một thứ gì đó ấm nóng, tươi sáng và rất đỗi con người. Nhưng tuyệt nhiên chẳng có gì. 4 Lại là tối thứ Bảy. Tối thứ Bảy thứ bốn mươi bảy kể từ ngày Maya qua đời. Mọi chuyện chẳng hề dễ dàng hơn chút nào.
Adrian bâng quơ tự hỏi không biết gia đình mình giờ này đang làm gì. Anh hình dung ra cảnh họ ngồi thành hàng trước màn hình tivi, theo dõi bất kỳ chương trình nào đang làm mưa làm gió vào tối thứ Bảy lúc này. Cuối tuần trước lũ trẻ sang đây đã bắt anh xem cái gì ấy nhỉ? Một show nào đó có Ant và Dec dẫn. Anh gần như chẳng thể nhớ nổi. Anh chỉ thấy may là nó không phải mấy cái chương trình tìm kiếm tài năng kinh hãi, nơi người ta cứ khóc lóc sướt mướt khắp cả trường quay. Khi bóng tối bắt đầu phủ dài trên vỉa hè bên ngoài và một cơn mưa rào nhẹ hạt lách tách đập vào các ô cửa kính, Adrian tự rót cho mình một ly rượu vang rồi kéo chiếc laptop lại gần. Mãi đến khi Maya mất và bỏ lại anh trơ trọi một mình - lần đầu tiên sống đơn độc kể từ năm mười chín tuổi - anh mới nhận ra mình chẳng có nổi lấy một người bạn. Trong quá khứ anh từng có bạn bè, nhưng họ chỉ là "gói đính kèm" từ hai cuộc hôn nhân trước. Những người bạn anh quen ở Sussex cùng Susie thì vẫn ở lại Sussex với Susie. Những người bạn chung với Caroline thì đứng hẳn về phe cô ấy sau vụ vụng trộm của anh với Maya. Hoặc đúng hơn là, họ đứng về phe các bà vợ của mình. Còn anh và Maya thì chẳng kết giao thêm ai, bởi cả hai đã quá bận rộn với việc làm vui lòng tất cả mọi người. Có vài kẻ dở hơi bỗng dưng xuất hiện sau cái chết của Maya, những người anh chưa từng nghĩ mình sẽ gặp lại: gã hiệu phó có vẻ ngoài hơi nham hiểm ở trường nữ sinh nơi Maya từng dạy học - người anh từng có một cuộc trò chuyện dài đầy gượng gạo trong một đêm gây quỹ; người chồng cũ của một cô bạn Caroline - kẻ mà giọng mũi khó chịu của hắn từng là đề tài để anh và Caroline khoái chí nhại lại sau lưng; rồi ông bố có tính khí khá hiếu chiến của bạn bé Pearl - người mà Adrian chỉ
gặp thoáng qua trong những đợt đón đưa con kéo dài vỏn vẹn chín mươi giây trước cửa nhà mỗi bên. Họ lôi kéo anh vào các quán rượu, thậm chí thi thoảng còn tới cả các hộp đêm. Họ ép anh nốc rượu cho đến khi trông anh có vẻ như đang tận hưởng cuộc vui, rồi sau đó cố mai mối cho anh bắt chuyện với những phụ nữ chẳng hề phù hợp. "Đây là Adrian, bạn tôi. Cậu ấy vừa mất vợ." Cũng có cả một đàn phụ nữ túa đến ngay sau cái chết của Maya. Chủ yếu là các bà mẹ của bạn học lũ trẻ - chính những người đàn bà từng nhìn anh bằng ánh mắt ghê tởm tột cùng khi nghe tin anh bỏ Caroline, thì nay lại vây quanh anh với đôi mắt mở to đầy vẻ quan tâm, mang cho anh đủ thứ đồ ăn đựng trong hộp Tupperware, để rồi sau đó anh lại phải lúi húi rửa sạch và mang trả kèm theo những lời cảm ơn rối rít. Lúc đó anh đâu có cần họ. Anh chỉ muốn giam mình trong nhà, khóc cho thỏa và tự dằn vặt với hàng vạn câu hỏi tại sao, tại sao và tại sao. Bây giờ, mười một tháng sau, anh vẫn không biết tại sao, nhưng anh đã thôi không còn tự hỏi nữa rồi. *** Cô gái tên Jane lại đến vào ngày hôm sau. Lần này mái tóc màu mật ong của cô được xõa xuống, sấy uốn thành những lọn bồng bềnh chạm khẽ vào xương quai xanh, phần tóc mái rẽ ngôi giữa rũ xuống hai bên mặt như thể cô đang ngó nghiêng qua bức màn sân khấu. Trong những phút giây trước khi cô tới, Adrian đã làm những điều mà chính anh cũng chẳng muốn đào sâu nghĩ lại. Anh đã mang chiếc gương cầm tay của Maya từ một góc tối trong nhà ra chỗ góc sáng rực rỡ, rồi săm soi gương
mặt mình đến từng chi tiết vụn vặt, trần trụi dưới ánh sáng hắt vào từ khung cửa sổ hướng tây. Maya tròn ba mươi tuổi khi anh gặp cô, và lúc đó anh bốn mươi tư. Khi ấy anh từng tự thấy mình là một gã bốn mươi tư tuổi trẻ trung. Một mái tóc nâu sẫm dày dặn, đôi mắt màu hạt dẻ sáng ngời, khóe môi hằn những nếp nhăn cười tươi tắn - gương mặt trong gương khi đó vẫn đúng là những gì anh mong đợi. Thời gian và nỗi đau buồn đều tàn nhẫn ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng nghiệt ngã nhất là ở cái ngưỡng trung niên dở dang này, khi gương mặt bỗng giống như một hình ảnh chập chờn trong một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt đầy vẻ làm màu - lúc mờ lúc tỏ, khi già khi trẻ, già rồi lại trẻ. Nhưng rồi vào một khoảnh khắc nào đó sau cái chết của Maya, hình ảnh ấy đã ngừng chập chờn và dừng lại ở đó. Bất động. Gương mặt của một kẻ già nua hơn mức anh từng tưởng tượng. Suốt mấy tháng qua anh chẳng mấy khi soi gương, nhưng giờ đây anh lại muốn biết trông mình ra sao. Anh muốn thấy những gì mà Jane sẽ thấy. Tỉ mỉ từng chi tiết một, anh nhận ra đường viền hàm của mình đã bắt đầu chảy xệ; anh thấy những nếp gấp và nếp nhăn nhúm trên da cổ gợi anh nhớ tới những bờ biển hoang sơ, lồi lõm vì ngấn nước thủy triều ở bắc Norfolk. Anh thấy những bọng mỡ ngả vàng bên dưới mi mắt; thấy làn da khô ráp, đôi mắt hạt dẻ đã phai màu và mái tóc bạc dần, từ màu nâu đậm óng ả chuyển thành thứ gì đó nhang nhác màu của mặt đường ướt sũng. Sau khi màn tự soi xét kết thúc, anh bước vào phòng tắm và bôi trát lên mặt đủ thứ trong những tuýp và lọ mà Maya để lại. Anh gội đầu hai lần cho đến khi tóc sạch kin kít dưới đầu ngón tay. Và rồi, có lẽ là lần đầu tiên trong đời, anh dùng dầu xả. Anh chẳng buồn tự hỏi tại sao. Anh cứ thế làm thôi. Đoạn, anh
là phẳng một chiếc áo sơ mi. Chiếc áo màu xanh lá mà Maya từng bảo là tôn lên màu mắt hạt dẻ của anh. Rồi anh dùng máy sấy của Maya để sấy tóc, lùa các ngón tay qua từng lọn tóc, chải chuốt cho nó mượt mà và thơm tho. Anh thầm tự rủa mình khi nhìn đồng hồ nhảy từ 11:22 sang 11:23, còn đúng bảy phút trước giờ hẹn. "Thằng ngốc," anh lẩm bẩm dưới hơi thở. "Đúng là một thằng già dở hơi hết thuốc chữa." Anh cắm ấm đun nước rồi dọn dẹp, sắp xếp lại đồ đạc trên kệ bếp cho trông có vẻ hiếu khách hơn. "Bốn mươi tám," anh tự càu nhàu. "Mày bốn mươi tám tuổi rồi. Mày là một gã góa vợ. Một thằng khốn vô tích sự." Và rồi cô xuất hiện ở đó, trẻ trung một cách lạ kỳ ngoài cửa chính, với đôi mắt hai màu và kiểu tóc mái giả lả ngây thơ, người thoang thoảng mùi hoa nhài cùng hương thơm của áo quần sạch sẽ. Hai tay cô ôm chặt chiếc túi nhỏ nhắn ngang bụng, người khoác chiếc áo choàng xám mềm mại cài duy nhất một chiếc cúc to bản. "Mời vào. Mời vào." "Tôi thật sự xin lỗi," cô nói, tự tin sải bước vào hành lang. "Tôi biết chắc anh nghĩ tôi bị điên." "Gì cơ? Làm gì có!" "Tất nhiên là có rồi. Cứ như thể tôi đang hẹn hò với con mèo của anh vậy. Kiểu như đang tán tỉnh nó ấy. Có khi bước tiếp theo là tôi sẽ xin phép đưa nó đi ăn tối mất." Adrian nhìn Jane rồi bật cười. "Cứ tự nhiên," anh bảo. "Nó ăn uống lịch sự lắm. Mà cũng chẳng ăn nhiều đâu."
Jane tiến về phía con mèo, lúc này nó đang nằm ở chỗ quen thuộc trên lưng ghế sofa cạnh cửa sổ phía trước. Thấy cô tới gần, con mèo quay lại, chìa mặt ra vẻ hớn hở. "Chào bé," Jane nói, hai tay ôm lấy mặt con mèo rồi âu yếm ngắm nhìn. "Cô bé ngoan quá." "Cô dùng trà nhé?" Adrian hỏi. "Cà phê? Hay nước lọc?" "Cho tôi xin một tách cà phê," cô đáp. "Tối qua tôi quậy hơi quá chén." Adrian gật đầu. Trông cô chẳng có vẻ gì là vừa trải qua một đêm tiệc tùng bạt mạng. Thậm chí trông cô như thể cả đời chưa từng biết đến một đêm say xỉn là gì. "Cà phê đen nhé?" Cô mỉm cười. "Đen ạ." Khi Adrian bưng cà phê quay lại, anh thấy Jane đang ngồi trên ghế sofa, con mèo nằm gọn trong lòng và trên tay cô là khung ảnh mấy đứa nhỏ nhà anh. "Mấy đứa trẻ này đẹp quá," cô nói, xoay bức ảnh về phía anh. "Đều là con của anh hết sao?" Anh liếc nhìn bức ảnh. Đó là Otis, Pearl và Beau, đứa nào cũng đội mũ đi mưa và mang ủng cao su, đang lội nước ngập đến đầu gối trong một con rạch ở đâu đó vùng West Country. Phía sau lưng chúng, bầu trời xám xịt như màu nòng súng, bên dưới chân là dòng nước màu kim loại xám thép, và quần áo sặc sỡ của tụi nhỏ nổi bần bật trên cái phông nền u ám, trông hệt như hình cắt dán vào vậy. Beau vòng tay ôm lấy eo Pearl, còn Pearl thì tựa đầu vào hõm vai Otis. Đó là một bức ảnh tràn ngập hạnh phúc; cả ba đứa trẻ đều cười rất tươi và tự nhiên với đôi mắt
mở to cùng khóe miệng thư thái. Bức ảnh do chính tay Maya chụp. Lũ trẻ luôn nở nụ cười rạng rỡ nhất trước ống kính của Maya. Adrian đưa cà phê cho Jane và cô đặt nó lên mặt bàn. "Ừ," anh nói. "Tất cả đều là con tôi." "Tên tụi nhỏ là gì vậy?" Anh liếc nhìn cô. Đến răng mình còn vừa dùng chỉ nha khoa vì người phụ nữ này cơ mà - thì việc cô tò mò hỏi mấy chuyện riêng tư thế này có gì đáng ngạc nhiên đâu. "À," anh nói, lướt ngón tay qua bức ảnh. "Đây là Otis, mười hai tuổi; kia là Pearl, con bé..." "Gần mười tuổi." Anh liếc xéo nhìn cô. Cô cũng nhìn lại anh với vẻ tinh nghịch. "Phải. Con bé gần mười tuổi. Còn nhóc tì này là Beau. Vừa tròn năm tuổi." "Đáng yêu quá," cô nói, cẩn thận đặt bức ảnh lại lên bàn rồi nhấc tách cà phê lên. "Và tụi nhỏ không sống cùng anh à?" "Cô tò mò thật đấy," anh nói rồi ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện cô. "Tôi tọc mạch mà," cô đáp. "Anh cứ nói thẳng ra đi. Tôi không để bụng đâu." "Được thôi. Cô rất tọc mạch." Cô bật cười. "Xin lỗi nhé, tôi chỉ luôn thấy cuộc sống của người khác rất thú vị thôi. Xưa giờ vẫn vậy."
Anh mỉm cười. "Không sao. Tôi cũng thế." Anh hít một hơi sâu rồi đưa tay xoa cằm vừa cạo nhẵn nhụi. "Không," anh nói. "Tụi nhỏ không ở với tôi. Chúng ở với mẹ. Trong một căn nhà phố năm tầng kiểu kiến trúc Georgian ở Islington." "Chà." Jane đưa mắt đảo quanh phòng khách chật chội, như một sự ngầm thừa nhận rằng vợ cũ của Adrian đã vớ được phần hời hơn. "Tôi thấy ổn mà," anh vội xua đi. Anh ghét nhất là bị ai đó thương hại, dẫu chỉ là trong thoáng chốc. "Rất ổn là đằng khác. Cứ cách một tuần thì cuối tuần tụi nhỏ lại qua đây chen chúc, vẫn đủ chỗ. Nhóc Beau ngủ cùng tôi, Pearl với Otis thì ở phòng trống bên cạnh. Rất ổn." "Vậy anh với người vợ quá cố không có con chung sao?" "Không." Adrian lắc đầu. "Đáng tiếc là không. Dù lạy Chúa, tôi cũng chẳng biết mình sẽ xoay xở thế nào nếu hai đứa có con nữa. Ý tôi là... chắc tôi phải nghỉ việc mất. Và cả cái cơ đồ vốn đã bấp bênh này sẽ sụp đổ tan tành cho xem." "Ngôi nhà lớn ở Islington..." "Phải. Và cả ngôi nhà nhỏ kiểu nông thôn ở Hove nữa." Cô nhướng mày nhìn anh đầy vẻ tò mò. "Vợ cũ đầu tiên đấy," anh đáp. "Susie. Mẹ của hai đứa con lớn nhất nhà tôi. Đây này..." Anh đứng dậy, cầm lấy một khung ảnh khác và đưa cho cô. "Cat và Luke. Tụi nhóc lớn nhà tôi." Cô trố mắt nhìn bức ảnh. "Con cái của anh đứa nào trông cũng rất đặc biệt," cô bảo. "Hai đứa này bao nhiêu tuổi rồi?" "Tháng Năm này Cat tròn hai mươi. Luke thì hai mươi ba."
"Đều thành người lớn cả rồi nhỉ?" "Ừ. Đều lớn cả rồi. Dù đôi khi tôi vẫn chẳng cảm nhận được điều đó." "Và tụi nhỏ sống ở Hove sao? Cùng với mẹ chúng à?" "Luke thì ở đó. Còn Cat hiện đang ở London. Sống cùng Caroline." "Caroline?" "Ừ. Caroline. Vợ thứ hai của tôi." Jane nhìn ra phía cánh cửa thông ra hành lang. "Giờ thì tôi hoàn toàn hiểu tác dụng của cái thứ kia rồi," cô nói. "Chiếc bảng trắng ấy." "Phải. Bảng Hòa Hợp. Ơn Chúa vì có nó. Và tạ ơn Chúa vì đã có Maya." Anh thở hắt ra thật mạnh, cố nén một cơn xúc động chực trào nước mắt. Jane nhìn anh bằng ánh mắt đầy trắc ẩn. "Vậy, nếu không phiền tôi hỏi... Maya đã qua đời như thế nào?" "À, về mặt y khoa, cô ấy chết do chấn thương sọ não và xuất huyết nội ồ ạt sau khi bị một chiếc xe buýt đêm tông phải trên đường Charing Cross lúc ba giờ ba mươi sáng. Nhưng về mặt nguyên nhân thực sự, chẳng ai biết vì sao cô ấy lại ra nông nỗi bị xe buýt đêm đâm trúng trên đường Charing Cross vào cái giờ đó." Anh nhún vai. "Vậy không phải là tự sát sao?" "Thì... kết luận chính thức là chết do tai nạn, nhưng những người như Maya - một người chừng mực và lý trí - thường
chẳng bao giờ vô cớ say khướt đến mức không đứng vững nổi rồi ngã bổ nhào vào đầu xe buýt trên đường Charing Cross lúc ba giờ ba mươi sáng cả. Thế nên..." "Vẫn là một dấu hỏi lớn." "Phải. Một dấu hỏi to đùng." "Chúa ơi, tôi dám cá là anh rất muốn biết sự thật." Adrian thở dài. "Chắc chắn rồi. Thật khó để bước tiếp khi mọi chuyện chưa có câu trả lời." "Bản thân anh có suy đoán nào không?" "Không," anh bảo. "Chẳng có gì cả. Mọi chuyện ập đến quá đỗi bất ngờ. Chúng tôi vừa trở về từ Suffolk sau một kỳ nghỉ cùng gia đình. Chúng tôi đã có một khoảng thời gian tuyệt vời. Hôm đó cô ấy còn dành trọn cả ngày bên các con tôi." Anh khựng lại, cố kéo mình ra khỏi khoảng tối tăm mà tâm trí anh luôn trượt vào mỗi khi nghĩ về những giờ phút cuối cùng không lời giải đáp trong đời Maya. "Chúng tôi đang rất hạnh phúc. Cả hai còn đang tính chuyện sinh con. Mọi thứ đều hoàn hảo." "Thật thế sao?" Anh liếc nhìn cô đầy dò xét. Câu hỏi nghe như một lời buộc tội. "Phải," anh đáp, giọng gần như gắt lên. "Thực sự, thực sự rất hoàn hảo." Jane chầm chậm thả bàn tay từ xương quai xanh xuống đùi. "Còn quá trẻ," cô thì thầm. "Còn quá trẻ," anh lặp lại. "Thật bi kịch."
"Ừ." "Thật kinh khủng." "Ừ." Và nó lại ùa tới, hệt như một luồng gió lạnh, chuẩn xác từng giây từng phút: Sự Im Lặng Gượng Gạo. Cái chết của Maya là một ngõ cụt cho mọi cuộc trò chuyện. Bất kể anh đang nói chuyện với ai, rồi cũng sẽ đến lúc Cạn Lời Để Nói. Nhưng mà Đổi Chủ Đề Ngay Lúc Đó Thì Lại Quá Thô Lỗ. Với người lạ, khoảnh khắc ấy lại càng đến sớm hơn. "Thôi được rồi," cô dứt khoát nói rồi bật dậy. "Tôi phải đi đây." "Ồ," anh ngơ ngác trước sự đường đột ấy. "Được rồi. Còn Billie thì sao? Hôm nay cô đã cảm thấy có sự kết nối hơn chưa?" "Có chứ," cô nói, "thực ra là có. Nhưng tôi sẽ không bắt nó đi đâu. Tôi sẽ để nó lại. Với anh. Tôi nghĩ anh cần nó." Anh nhìn cô. Rồi lại nhìn con mèo. Và anh biết cô đã nói đúng. "Cảm ơn cô," anh bảo. "Phải. Cô nói đúng. Tôi thực sự cần nó." Cô mỉm cười đầy thấu hiểu nhìn anh. "Tốt quá rồi," cô nói. "Tôi cũng chẳng hiểu mình đã nghĩ gì nữa, thật đấy. Chắc tôi cứ ngỡ làm vậy là điều tích cực. Kiểu như để bước tiếp ấy mà. Cô biết đấy." "À," cô vừa nhặt túi xách vừa nói. "Bước tiếp là chuyện tự nhiên sẽ đến với anh, chứ không phải thứ anh gồng mình lên mà làm được. Đó là điều người đời thường không hiểu. Bước
tiếp chẳng phải là một hành động có chủ đích. Nó là một quá trình tự nhiên. Hãy cứ dịu dàng với bản thân mình thôi." Cô vuốt lại vạt váy len dệt kim, hất nhẹ mái tóc vàng qua vai rồi cầm chiếc áo khoác trên tay vịn ghế sofa lên. Adrian trân trân nhìn cô. Bước tiếp không phải là hành động có chủ đích. Tại sao trước đây chưa từng có ai nói với anh điều đó? Tại sao ai ai cũng chỉ chăm chăm bảo anh phải làm cái này cái nọ để thấy khá hơn? Đi đâu đó khuây khỏa một thời gian đi. Tham gia trang web hẹn hò đi. Đi trị liệu tâm lý đi. Chuyển nhà đi. Vứt bớt đồ đạc đi. Trong khi anh chẳng hề muốn làm bất cứ điều gì trong số đó. Anh không hề muốn bước tiếp. Anh chỉ muốn ở yên ngay tại vị trí này. Chìm nghỉm và đè nặng dưới cái địa ngục trần gian của nỗi đau thương tang tóc. "Cảm ơn cô," anh nói. "Vâng. Cảm ơn cô. Tôi sẽ làm như vậy." Cô lại liếc nhìn chiếc Bảng Hòa Hợp khi anh tiễn cô ra tận cửa. "Anh đã mua quà gì cho bé thế?" cô hỏi. "Hả...?" "Pearl ấy? Sinh nhật con bé ấy?" "À," anh nói, lại thêm một lần bất ngờ trước sự tự nhiên đến suồng sã của cô. "Tôi mua giày trượt băng cho con bé." Jane gật đầu. "Hay đấy." "Năm nào tôi cũng tặng con bé giày trượt băng. Nó là vận động viên trượt băng nghệ thuật mà. Tập từ hồi bé tí, đâu tầm năm tuổi gì đó. Con bé giỏi lắm... toàn đoạt giải thôi... cả cúp lẫn huy chương. Cứ rảnh rỗi là lại lên khu Ally Pally để luyện tập."
Mắt Jane mở to. "Chà," cô trầm trồ. "Đáng nể thật đấy. Nhỏ tuổi thế mà đã có mục tiêu rõ ràng. Thời buổi này quả là hiếm có." "Phải. Đúng vậy. Tôi cũng chẳng hiểu con bé thừa hưởng cái tính đó từ ai nữa. Hồi tôi mười tuổi, tôi chỉ toàn thích trèo lên cây rồi ném đồ vào người ta thôi." Jane mỉm cười nhưng không bật cười thành tiếng. "Được rồi," cô nói, "rất vui được gặp anh, Adrian. Cả cô mèo đáng yêu của anh nữa. Hy vọng hai người sẽ hòa thuận với nhau." "Vâng. Giờ thì tôi nghĩ chắc sẽ ổn thôi. Nhờ có cô cả đấy." Cô nắm lấy tay anh rồi bắt. Bàn tay cô mát lạnh và mềm mượt. Adrian bỗng thấy một cơn hoảng loạn dâng lên trong lòng khi cô nới lỏng cái bắt tay, một thứ cảm giác sợ hãi đầy bản năng và nguyên thủy. Anh chỉ muốn hét lên: Đừng đi! Uống thêm tách cà phê nữa đi! Hỏi tôi thêm vài câu nữa đi! Đừng bỏ tôi lại ở chốn này một mình! Nhưng thay vào đó, anh chỉ vỗ nhẹ lên vai cô, cảm nhận lớp dạ êm như nhung của chiếc áo khoác len tinh tươm dưới những ngón tay mình, rồi cất lời: "Rất vui được gặp cô, Jane. Bảo trọng nhé." "Anh cũng vậy nhé, Adrian. Chúc anh mọi điều may mắn." Anh đóng cửa lại sau khi cô bước ra rồi chạy ngay ra cửa sổ để nhìn theo bóng lưng cô. Anh ngồi ké một góc trên lưng ghế sofa cùng Billie, lặng nhìn Jane rẽ trái rồi bất chợt dừng lại; và hoàn toàn nằm ngoài dự đoán, cô rút một bao thuốc lá từ trong chiếc túi xách gọn gàng ra. Anh thấy cô lấy chiếc bật lửa nhựa từ một ngăn khác trong túi, châm thuốc, rít một hơi sâu, cất bật
lửa lại, kéo khóa túi rồi rảo bước nhanh về phía con phố chính, để lại phía sau một vệt khói mờ ảo như bóng ma lững lờ trôi. 5 Đặt trong mối tương quan với bầy con đông đúc của Adrian thì Beau vô cùng, vô cùng nhỏ bé, nhưng khi sải bước ra khỏi cửa lớp học, vượt trội hẳn so với các bạn cùng lứa, thằng bé trông như đứa trẻ cao nhất thế giới. Adrian bế thốc con lên khỏi mặt đất, ôm ghì lấy một cái thật chặt rồi mới thả thằng bé xuống nền đường nhựa. Beau ngó ra sau lưng Adrian. "Chỉ có mình bố thôi ạ?" thằng bé hỏi, vừa đưa cặp sách cho anh. "Ừ. Chỉ có bố thôi." "Bố con mình có đi đón cả chị Pearl không?" "Có chứ, dĩ nhiên là phải đón cả Pearl nữa rồi. Hôm nay là sinh nhật chị mà!" "Bố con mình đi đâu thế ạ?" Hai bố con len qua đám đông phụ huynh và học sinh đang đứng chật kín sân chơi của khối mầm non. Thi thoảng Adrian lại mỉm cười chào một gương mặt quen. Anh nắm chặt bàn tay nhỏ nhắn và khô ráo của Beau trong lòng bàn tay mình, cảm giác ấm áp như một chiếc bùa may mắn. "Bí mật nhé." "Cho sinh nhật chị Pearl ạ?" "Đúng rồi. Cho sinh nhật chị Pearl." "Anh Otis có đi cùng không bố?"
"Không. Anh con đang bận việc ở trường. Nên chỉ có ba bố con mình thôi." Beau gật đầu đầy vẻ tán thành. Pearl trông vẫn kiêu kỳ và đài các như mọi khi, đứng nổi bật giữa các bạn cùng lớp, hai tay đút trong túi chiếc áo khoác chần bông, ánh mắt buồn rầu nhìn qua biển đầu người từ dưới chiếc mũ lông to sụ hình đầu gấu, trông như thể con bé chẳng hiểu nổi mình đang làm cái quái gì ở cái chốn này. Nhưng ngay khi ánh mắt con bé chạm phải ánh mắt anh, gương mặt nó liền giãn ra, rồi nó chân sáo nhảy cẫng lên như một đứa trẻ nhỏ băng qua sân trường, lao thẳng vào vòng tay đang mở rộng của anh. "Bố!" con bé thốt lên, vùi mặt vào chiếc áo khoác dạ của anh. "Sao bố lại ở đây? Mẹ bảo chị Cat sẽ đón con cơ mà. Mẹ bảo bố bận, tối mới đến ăn cơm." "Cả bố và mẹ đều nói dối đấy," anh bảo. "Để bố tạo bất ngờ cho con mà." Pearl mỉm cười. "Chúc mừng sinh nhật, công chúa nhỏ của bố." Anh hôn nhẹ lên đỉnh đầu con bé. "Con cảm ơn bố," nó lí nhí đáp, khẽ cười ngượng ngùng với một người bạn vừa đi ngang qua. Anh dắt hai đứa con nhỏ nhất của mình ra trạm xe buýt bên ngoài trường học. "Bố con mình đi đâu thế ạ?" Pearl hỏi.
"Bố con mình đi xem phim. Một phim tên là Chúng Ta Đã Mua Một Sở Thú. Rồi sau đó mẹ, chị Cat và anh Otis sẽ đến gặp chúng ta để cùng ăn tối." Beau giơ nắm đấm lên trời reo hò, còn Pearl chỉ nở một nụ cười đầy bí hiểm. "Thế có thích không con?" anh hỏi. "Dạ có," Pearl nói, khẽ cọ cánh tay vào người anh đầy âu yếm. "Tốt lắm ạ." Adrian thở phào nhẹ nhõm. Trong vốn từ ngữ của Pearl, từ "tốt" tương đương với hàng loạt những tính từ so sánh nhất hoa mỹ dài ngoằng, và anh thảnh thơi tận hưởng cái cảm giác ấm áp từ sự tán thưởng hiếm hoi của con bé. Họ ngồi ở tầng trên của một chiếc xe buýt đang nhích từng chút một giữa dòng xe cộ đưa đón học sinh ùn tắc, hướng về phía nam, trên đường Upper Street. Adrian đặt chiếc mũ gấu của Pearl lên đùi rồi vuốt ve hai cái tai mũ, Beau thì đứng vịn vào thanh chắn ngắm nhìn đường phố phía dưới, còn Pearl ngồi thẳng lưng - như thói quen muôn thuở từ khi còn bé tí - kiêu hãnh nhìn trừng trừng vào các cửa hiệu, lễ phép và nhã nhặn trả lời từng câu hỏi của Adrian, nhưng tuyệt nhiên không hề tỏ ra chút hào hứng nào. Trong một khoảng lặng, Adrian chăm chú ngắm nhìn góc nghiêng của con bé. Con bé giống Caroline như đúc: một vẻ đẹp sắc sảo không chút ủy mị, toàn những đường nét góc cạnh và chuẩn xác như một tác phẩm điêu khắc. Con bé chưa bao giờ là một đứa trẻ thích líu lo, chẳng bù cho Luke và Otis - hai thằng con trai lớn của anh - những đứa sáng nào thức dậy cũng có hàng tá câu hỏi tuôn ra từ cái miệng vừa mở mắt, những đứa có thể liến thoắng suốt cả bộ phim, câu chuyện hay chuyến đi
xe và chỉ chịu im bặt khi đã chìm vào giấc ngủ. Cat, cô con gái lớn của anh, thì tính khí thất thường hơn; lúc thì cởi mở ríu rít, lúc lại khép kín câm lặng. Beau thì đúng chuẩn một đứa nhóc năm tuổi điển hình. Anh và Caroline từng đùa rằng thằng bé giống như món hàng mua sẵn trên kệ sau khi đã nghiên cứu kỹ lưỡng: một đứa trẻ sơ sinh hoàn hảo như trong sách giáo khoa, và giờ là một cậu bé ngọt ngào, vô lo vô nghĩ. Nhưng Pearl - con bé chẳng giống ai trong số đó. Nó là bà hoàng băng giá. Maya từng gọi con bé là Nữ hoàng. Ngay từ khi còn ẵm ngửa, con bé đã luôn giữ khoảng cách trước ngọn lửa ấm áp của sự thân mật và tình cảm, như thể sợ rằng thứ hơi ấm ấy sẽ làm mình bị bỏng. "Bố không thể tin nổi là công chúa của bố đã mười tuổi rồi đấy," anh nói. Con bé nhún vai. "Con cũng thấy thế," nó bảo. "Cảm giác như con mới sinh ra đâu chừng sáu năm trước thôi ấy." "Mấy đứa lớn nhanh quá." "Con cao nhất lớp đấy bố," Beau chen vào. "Chị cũng thế," Pearl nói. "Không, ý bố là các con lớn quá rồi. Không còn là những đứa bé con nữa." "Con cảm giác như mình chưa bao giờ là một đứa trẻ con cả," Pearl nói. "Ừ," Adrian mỉm cười đáp. "Bố cũng nghĩ là con chưa từng như thế." ***
Bộ phim nhẹ nhàng và cảm động. Nội dung phim kể về một người mẹ đã qua đời. Điều này gợi lên hàng tràng bình luận từ Beau về sự thật là Maya đã chết, và có lẽ nhà mình cũng nên mua hẳn một sở thú, dù rằng Maya không phải mẹ ruột của thằng bé. Pearl ngồi trầm ngâm suốt những phân đoạn buồn bã, còn Adrian thì kín đáo quan sát con bé để tìm kiếm manh mối về cảm xúc thực sự của nó trước cái chết của Maya chưa đầy một năm trước, bởi vì Pearl chưa bao giờ thực sự nói về chuyện đó. Nhưng con bé vẫn khó đoán như mọi khi, thậm chí có phần sắt đá, ánh mắt không một giây rời khỏi màn hình. Trời đã nhá nhem tối khi họ rời rạp chiếu phim, bầu trời chằng chịt những dải mây tím ngắt sống động. Adrian nắm lấy bàn tay nóng hổi của Beau rồi bắt đầu dẫn các con ngược lên đường Upper Street để tới nhà hàng Strada. Và chính tại nơi đó, anh đã nhìn thấy cô đang bước về phía mình, tay khoác chặt vào khuỷu tay của một gã bảnh bao diện âu phục kèm áo măng tô, tay kia cầm một bông hồng duy nhất. Mái tóc vàng của cô được búi cao trên đỉnh đầu như một vũ công ba-lê, và cô mặc đúng chiếc áo khoác màu xám mềm mại cài chiếc cúc to bản từng mặc hôm đến xem mèo. Trông cô cao hơn trong trí nhớ của anh, và Adrian nhận ra cô đang đi một đôi giày cao gót có kiểu dáng vượt ngoài sức tưởng tượng của anh - phần đế trước đôn cao cùng gót nhọn hoắt bốn inches bằng da tiệp màu da người. Anh đã định cứ thế bước qua mà không chào hỏi. Cô đang đi hẹn hò. Còn anh đang đi cùng các con. Nhưng cô đã nhìn thấy anh, và gương mặt cô - vốn đã mềm mại và rạng rỡ theo cái cách thường thấy ở những người mới bắt đầu hẹn hò - lại bừng sáng thêm một bậc khi nhận ra người quen. "Là anh này," cô nói.
Adrian vội điều chỉnh nét mặt để làm ra vẻ bất ngờ đầy thích thú, chỉ tay vào cô một cách đầy kịch tính rồi bảo: "Ừ. Và là cô này!" Giọng anh nghe kỳ cục đến mức chính tai anh cũng thấy ngượng. "Anh dạo này thế nào?" cô hỏi. "Tôi khỏe," anh đáp, giọng hơi quá to, tông giọng gượng gạo thấy rõ. "Chỉ là... à..." Anh nhìn xuống lũ trẻ, chúng đang tò mò trố mắt nhìn Jane. "Dẫn con đi chơi sinh nhật ấy mà." Mắt Jane mở to. "A! Đúng rồi chứ! Sinh nhật của Pearl. Và cháu chắc chắn là Pearl rồi." Pearl câm lặng gật đầu. "Chúc mừng sinh nhật Pearl nhé. Cháu đã nhận được món quà mình thích chưa?" Pearl trông có vẻ bối rối, và Adrian vội can thiệp: "Pearl, cô này tuần trước có đến nhà bố để xem có nhận nuôi Billie được không đấy. Cô ấy tên là Jane." "Xin lỗi, đáng lẽ tôi phải tự giới thiệu trước. Vâng, tôi là Jane. Còn đây là Matthew." Gã đàn ông tên Matthew gật đầu rồi nở một nụ cười gượng gạo, nét mặt lộ rõ vẻ rằng việc phải đứng ngoài trời lạnh trên đường Upper Street để tán gẫu với một gã già cùng bầy con nheo nhóc hoàn toàn không nằm trong kế hoạch hoàn hảo cho một buổi tối mở đầu bằng một bông hồng đỏ. "Và cô ấy đã nhìn thấy chiếc bảng trắng của bố," Adrian nói tiếp.
"Đúng vậy," Jane quay sang nói với lũ trẻ: "Cô là một kẻ tọc mạch kinh khủng đấy. Cô hỏi nhiều chuyện quá. Tha lỗi cho cô nhé." Cô đặt một tay lên ngực, những ngón tay khẽ chạm vào chiếc cúc áo to bản. Adrian nhìn chăm chú vào chiếc cúc. Đột nhiên anh cảm thấy chiếc cúc ấy như một phần thân thuộc của chính mình. Anh như thấy lại chiếc áo khoác từng vắt hờ hững trên ghế bành nhà anh, trong bầu không khí thân mật, thư thái của một buổi sáng Chủ nhật - không có những gã tên Matthew, cũng chẳng có trẻ con. "Đừng nói ngốc thế," anh bảo, cuối cùng cũng tìm lại được phong thái tự nhiên thường ngày. "Thôi, chúng tôi phải đi đây." "Vâng," cô nói. Cô mỉm cười rồi lại luồn tay vào khuỷu tay Matthew. "Mọi người đi đi kẻo trễ. Chúc cả nhà vui vẻ nhé. Và chúc mừng sinh nhật cháu, Pearl." Adrian vừa định bước tiếp để trở lại với nhịp điệu êm ả của buổi tối, thì cô bỗng dừng lại, giật nhẹ tay kéo Matthew dừng bước rồi hỏi: "À mà này, anh với Billie dạo này thế nào rồi?" "Rất tốt," anh đáp. "Thực sự rất hòa thuận." Nụ cười của cô khi ấy bỗng đổi khác, trở lại là nụ cười mang nét thân quen của những lần gặp gỡ trước. "Tuyệt quá," cô nói. "Thế thì tốt quá rồi. Thôi, chúc mọi người đi chơi vui vẻ." "Cảm ơn cô," Adrian đáp. "Hai người cũng vậy nhé." Mặt anh nóng bừng khi họ tiếp tục rảo bước. Có một điều gì đó rất lạ ở người phụ nữ này. Một thứ gì đó vừa khiến anh bất an, lại vừa mang lại cảm giác xoa dịu đến lạ kỳ. "Sao bố lại muốn đem cho Billie?" Pearl hỏi.
"Bố có cho đâu." "Nhưng cô kia bảo cô ấy từng muốn nhận nuôi nó mà." "Bố biết. Nhưng bố đổi ý rồi. Nhờ người phụ nữ đó mà bố mới thay đổi ý định đấy." Pearl ngẫm nghĩ về điều này một lát. "Tốt lắm," con bé nói. "Con thấy mừng. Bố không được đem cho con mèo của Maya đâu. Tuyệt đối không được." "Bố không cho đâu, Pearl à." "Cô ta làm con nhớ đến Maya." "Ai cơ - Billie á?" "Không!" Pearl ghét cay ghét đắng mấy trò đùa cợt không đúng lúc của bố. "Nhớ Maya cơ." "Thật sao?" Adrian dè dặt hỏi lại. Pearl rất hay nhìn gà hóa cuốc, cứ thấy ai cũng ngỡ là Maya. Thỉnh thoảng con bé lại giật tay anh rồi chỉ: Nhìn kìa bố, nhìn kìa, chính là cô ấy! Để rồi sau đó nhận ra mình chỉ đang chỉ vào một người phụ nữ xa lạ tóc đỏ chẳng có nét nào giống Maya, gương mặt con bé lập tức chùng xuống vì thất vọng. "Bố thì chẳng thấy giống chỗ nào cả." "Không, ý con là chuyện này không giống mấy lần con nhìn nhầm đâu. Con biết cô ta không phải Maya. Con chỉ cảm thấy ở cô ta có nét gì đó giông giống Maya thôi." Adrian vòng tay qua vai Pearl rồi siết nhẹ. Con bé khẽ lắc vai gạt tay anh ra.
"Em nhớ Maya lắm," Beau thở dài nói. "Em thật sự, thật sự nhớ cô ấy." "Chúa ơi," Adrian nói, anh dừng bước rồi cúi xuống nhìn thẳng vào đôi mắt xám ngây thơ của Beau. "Bố hiểu. Bố cũng thế. Bố cũng nhớ cô ấy nhiều lắm." *** Khi Adrian trở về nhà một mình ba tiếng sau đó, căn hộ đón anh bằng những khoảng tối và sự trống trải đến rợn ngợp. Anh tháo khăn quàng, cởi cúc áo khoác rồi treo đồ lên giá. Chiếc áo khoác của Maya vẫn ở nguyên đó, đúng vị trí cô đã để lại vào một ngày mùa xuân ấm áp gần một năm trước - cái ngày cô sang nhà Caroline rồi không bao giờ trở về nữa. Đó là một chiếc áo khoác đen đơn giản chần lông vũ, có thắt đai ngang eo và mũ viền lông thú. Anh nhớ về gương mặt cô từng lấp ló sau chiếc mũ trùm vào những ngày tuyết rơi, hai tay đút sâu trong túi áo, vài bông tuyết vương trên mái tóc mái màu hung đỏ, và đôi mắt xanh thẳm chất chứa biết bao điều bí ẩn. Và rồi anh lại nghĩ về Jane. Tâm trí anh chao đảo với những hình ảnh về gương mặt rạng rỡ của cô, bông hồng trên tay cô, và chiếc cúc to bản trên áo khoác của cô. Cô không giống bất kỳ ai anh từng quen biết trước đây. Anh chưa bao giờ có hứng thú với những phụ nữ mang vẻ đẹp lộng lẫy, kiêu kỳ. Sự quyến rũ hào nhoáng ở phụ nữ thường khiến anh mất phương hướng, chẳng khác nào một gã tài xế bị lóa mắt trước luồng đèn pha rọi thẳng từ chiếc xe ngược chiều. Xưa nay anh luôn phải lòng những người phụ nữ mộc mạc nhưng gợi cảm - những người có đường nét góc cạnh, đôi chân thon dài, giọng nói trầm khàn, mái tóc dày bồng bềnh, và sẵn sàng bước ra đường chỉ với đôi
tất màu yến mạch cùng một chiếc áo nỉ cũ kỹ. Tộc người Viking - anh thường gọi kiểu phụ nữ mình thích như thế. Maya không phải một Viking, nhưng cô giản dị và tự nhiên, mái tóc tém màu hung đỏ cắt ngắn dứt khoát, lúc nào cũng quần jeans phối với áo cardigan, và chỉ trang điểm khi trời đã tối. Anh mê đắm thứ vẻ đẹp kín đáo mà anh có thể tự hào rằng chính mình đã khai phá ra - một bí mật chỉ thuộc về riêng hai người. Nhưng Jane thì khác: cô lấp lánh và tỏa sáng. Từng tấc da tấc thịt trên người cô trông như thể vừa được nhúng qua một lớp bụi vàng. Cô không phải một chiến binh Viking, cô là một nàng công chúa. Con mèo xuất hiện khi anh bước vào phòng khách. Anh cho nó ăn rồi dọn bát đĩa từ máy rửa chén ra. Mọi cử động của anh đều kèm theo một thứ âm vang vô hình, tựa như tiếng đá rơi tõm xuống những khe nứt sâu thẳm. Trước đây anh chưa từng sống một mình như thế này bao giờ. Sống thử với Susie năm hai mươi tuổi. Cưới Susie năm hai mươi tư. Ly dị Susie năm ba mươi lăm. Sống chung với Caroline năm ba mươi lăm. Cưới Caroline năm ba mươi sáu. Ly dị Caroline năm bốn mươi tư. Sống cùng Maya năm bốn mươi tư. Cưới Maya năm bốn mươi lăm. Góa vợ năm bốn mươi bảy tuổi. Cuộc đời anh giống như đoạn kết đột ngột của một cuốn sách cực kỳ hay ho, khiến người đọc phải điên cuồng lật vội từng trang xem mình có bỏ sót đoạn nào không, trong nỗi bàng hoàng và mất phương hướng hoàn toàn. Anh nghĩ về Caroline, đang cùng ba đứa con nhỏ dắt díu nhau băng qua những con phố tối tăm ở Islington để trở về căn nhà phố ấm cúng, có Cat bên cạnh, có những con chó nhỏ kỳ quặc của cô và ngọn lửa ấm áp trong gian bếp đang chờ đón. Anh
hình dung ra cảnh cô tắt đèn, chúc từng đứa con ngủ ngon, rồi trèo lên giường giữa những thanh âm quen thuộc của gia đình vây quanh: tiếng sàn gỗ cót két, tiếng thở phì phò của mấy con chó kỳ dị, và cái cảm giác được che chở khi biết luôn có những sinh mệnh khác đang cùng tồn tại bên cạnh mình, ngay cả trong giấc ngủ. Anh đã dứt áo rời khỏi khung cảnh ấy bốn năm trước, trong êm đẹp và tương đối vui vẻ, để bước vào một cuộc sống kiểu khác: một cuộc sống tĩnh lặng hơn bên một người phụ nữ và con mèo của cô ấy. Ban đầu anh cũng nhớ sự ồn ào và bừa bộn, nhớ tiếng cửa đóng sầm, những đôi giày vứt lăn lóc, những chiếc cặp sách quăng quật, và những tiếng la hét mỗi sáng. Nhưng rồi anh đã quen với sự thanh lịch của một cuộc đời chỉ chia sẻ cùng một người duy nhất - nơi một ly cocktail lúc năm giờ chiều chẳng có gì là xa xỉ, nơi việc thảnh thơi đọc báo là điều hoàn toàn khả thi, và chẳng còn ai nhìn anh như thể anh là một kẻ đại ngốc nữa. Nhưng đúng vào lúc anh vừa kịp quen với điều đó, thì nó lại tan biến mất. Và anh không thể nào làm quen nổi với tình cảnh hiện tại. Anh thực sự, thực sự không thể. Anh ngồi xuống ghế sofa, ôm ghì một chiếc gối tựa vào lòng. Rồi anh nhìn sang chiếc ghế bành, và một lần nữa ký ức về chiếc áo khoác của Jane vắt hờ trên lưng ghế lại ùa về choán lấy tâm trí anh. Anh cầm điện thoại lên, mở lại đoạn tin nhắn đã bắt đầu với Jane từ hai tuần trước: "Chào anh, tôi là Jane, người hỏi về con mèo đây. Tầm 11 giờ sáng thứ Bảy tôi sẽ ở gần khu nhà anh. Tôi ghé qua lúc đó được không?" "Được chứ. Địa chỉ nhà tôi là Căn hộ 2, số 5 St John’s Villas, NW1 1DT. Hẹn gặp cô lúc đó nhé!"
"Tuyệt quá. Cảm ơn anh!" "Chào Adrian, tôi vừa xong lớp kickboxing ở Highgate. Nửa tiếng nữa tôi qua tới nơi. Có tiện không anh?" "Được chứ Jane, tôi ở nhà đến trưa nên cứ qua nhé." Anh tắt màn hình điện thoại rồi đặt nó xuống ghế sofa. Thứ cảm giác anh đang trải qua là gì thế này? Một thứ kỳ vọng méo mó, quái đản nào đang cuộn trào trong ruột gan anh? Nó nóng rẫy, choáng ngợp, và anh giật mình nhận ra rằng lần đầu tiên sau gần một năm trời, anh đang cảm nhận được một thứ cảm xúc mãnh liệt hơn cả nỗi đau tang tóc. Anh cầm điện thoại lên lần nữa, gõ nhanh một dòng tin nhắn rồi bấm gửi trước khi lý trí kịp can thiệp để báo cho anh biết rằng mình đang phạm sai lầm. "Chào Jane. Thật là một sự trùng hợp dễ thương khi tình cờ gặp lại cô ban nãy. Chúc cô có một buổi tối tuyệt vời, và một lần nữa cảm ơn cô vì những lời khuyên sâu sắc về con mèo. Cả mọi chuyện khác nữa. Rất hân hạnh được gặp cô." Adrian đặt chiếc điện thoại trong lòng bàn tay rồi trân trân nhìn vào nó. Bất giác và hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của lý trí, anh mường tượng ra cảnh gã đàn ông bảnh bao tên Matthew đang trần như nhộng quấn lấy Jane, miệng có khi còn đang ngậm chặt một bông hồng đỏ. Anh đặt điện thoại lên bàn, rồi giật bắn mình khi thấy có thứ gì đó rung lên bần bật ngay sát đùi. Anh dùng hai tay lần mò theo độ rung khắp ghế sofa cho đến khi chạm vào nguồn phát. Một chiếc điện thoại kẹt sâu bên trong khe nệm sofa. Anh bật màn hình lên và lập tức nhìn thấy chính tin nhắn mình vừa gửi đi.
Bộ não già nua của anh phải mất một hai giây mới xâu chuỗi được mọi chuyện. Và rồi, hiển nhiên rồi, điện thoại của cô. Cô đã để quên điện thoại. Jane đã bỏ quên điện thoại. Ngay tại nhà anh. 6 Adrian hẹn Cat đi ăn trưa vào ngày hôm sau. Khá tình cờ là chỗ làm của hai bố con chỉ cách nhau vài con phố ở khu Farringdon, nên họ luôn cố gắng gặp nhau ăn trưa ít nhất mỗi tuần một lần. Cat làm việc bán thời gian cho một tổ chức từ thiện bảo vệ động vật. Thời gian còn lại, con bé đóng vai trò bảo mẫu không chính thức cho Caroline, được trả công bằng chỗ ăn, chỗ ở và một trăm bảng mỗi tuần. Adrian làm chủ một công ty kiến trúc mang cái tên rất giàu trí tưởng tượng: Adrian Wolfe Associates. Anh khởi nghiệp từ một căn phòng phía trên một quán rượu ở Tufnell Park năm ba mươi lăm tuổi, khi đó chỉ có anh, hai người bạn và một cô thư ký. Giờ đây công ty đã có ba mươi tám nhân viên, chiếm trọn hai tầng của một tòa nhà cải tạo từ nhà xưởng cũ ở Farringdon.